Trong gian chờ của phủ đường, người ta đã đốt trầm từ lúc nào. Mùi trầm đi cùng với mùi vải tang mới, thứ mùi hồ còn chưa giặt hết, hăng và khô. Đôn nhận ra nó ngay từ ngoài bậc tam cấp.
Hai viên quan mặc áo trắng đi ngược ra, gật đầu chào ông, không ai nói gì. Ở góc sân, mấy người lính đang gỡ những dải lụa điều trên cột xuống, cuộn lại, xếp vào một cái thúng lớn.
"Quan Thị thư đấy à. Vào đây." Tiếng gọi từ trong vọng ra.
Người ngồi bên trong là quan Bồi tụng, tuổi ngoài sáu mươi, tóc bạc quá nửa, trước mặt là ba chồng giấy xếp thành hàng ngay ngắn. Ông này chỉ cái chiếu đối diện.
"Ngồi. Ông có biết vì sao hôm nay trong phủ đốt trầm không?"
"Thưa, tôi đoán được từ lúc đi qua cổng." Đôn ngồi xuống, hai tay đặt trên gối. "Thượng hoàng đã băng."
"Đã báo khắp các trấn từ hôm kia. Viện Hàn lâm chưa nhận được văn thư?"
"Thưa, có lẽ đã tới mà tôi chưa đọc. Sáng nay tôi ngồi trong gian đối chiếu."
"Ông thì lúc nào chả ngồi trong gian đối chiếu." Quan Bồi tụng kéo chồng giấy giữa lại gần. "Việc nước có tang thì có lệ. Lệ ấy là phải sai người sang báo với triều bên kia. Nhân tiện thì đem theo lễ cống năm nay, đi một chuyến làm hai việc, đỡ tốn lộ phí, đỡ phiền các dịch trạm dọc đường. Ông biết lệ ấy chứ?"
"Thưa, biết."
"Biết tới đâu?"
"Thưa, tới chỗ trong sách chép." Đôn đáp. "Lệ cống ba năm một lần, sai sứ hai lần gộp lại một. Đoàn đi có chánh sứ, có phó sứ, có thông ngôn, có hành nhân, có người coi lễ vật. Đường đi theo lệ cũ là qua Lạng Sơn, ra cửa Nam Quan, rồi theo đường trạm mà lên. Đi mất bao lâu thì sách mỗi chỗ chép một khác, chỗ nói một năm, chỗ nói gần hai."
"Gần hai." Quan Bồi tụng nói gọn. "Sách nào chép một năm là sách chép theo lời người chưa đi bao giờ."
Ông rút từ chồng giấy ra một tờ, đặt xuống chiếu, xoay lại cho Đôn đọc.
Tờ giấy ghi chưa đầy hai chục dòng. Trên cùng là chức danh và tên của Chánh sứ, Trần Huy Mật. Hàng thứ hai và hàng thứ ba là hai chức Phó sứ. Hàng thứ ba là Trịnh Xuân Thụ.
Hàng thứ hai là tên ông.
Đôn đọc hết một lượt. Rồi ông đọc lại từ đầu, chậm hơn.
"Ông đọc hai lần rồi mà chưa nói gì." Quan Bồi tụng nói.
"Thưa, tôi đang xem có phải tên tôi không."
"Ông có nghĩ là trong kinh còn ai tên Lê Quý Đôn nữa không?"
"Thưa, không. Nhưng tôi vừa xem một bộ sách chép sai vì thợ chép nhảy mất một dòng. Sáng nay tôi quen nghi giấy rồi."
Quan Bồi tụng nhìn ông một lúc, rồi bật cười, cái cười ngắn của người đã ngồi trong phủ đường quá lâu để cười dài.
"Không sai đâu. Tờ ấy chép lại ba bản, cả ba bản đều có tên ông ở đúng chỗ ấy."
Ngoài sân, tiếng lụa điều bị kéo xuống khỏi cột nghe như tiếng xé. Đôn đặt tờ giấy xuống chiếu, và nhận ra ngón cái bàn tay phải của mình đang miết vào mép chồng sổ đặt bên cạnh, chỗ đáng lẽ là gáy một quyển sách. Ông rút tay về.
"Thưa, tôi xin hỏi một câu."
"Hỏi."
"Vì sao là tôi?"
"Ông muốn nghe câu trả lời trong phủ hay câu trả lời thật?"
"Thưa, cả hai, nếu được."
"Trong phủ thì nói thế này: đi sứ phải chọn người có khoa danh, để bên kia nhìn vào mà biết ta chọn người thế nào. Ông đỗ đầu ba kỳ, năm nay ba mươi hai tuổi, chức Hàn lâm Thị thư, đủ cả." Quan Bồi tụng cầm chén nước lên, không uống. "Còn thật thì thế này. Sang bên ấy, người ta sẽ hỏi ông. Không phải hỏi việc nước, việc nước đã có văn thư, đã có chánh sứ. Người ta hỏi sách. Hỏi bâng quơ giữa tiệc, hỏi lúc tiễn chân, hỏi để xem cái nước phương Nam này đọc được tới đâu. Đã nhiều đoàn về, và đã có đoàn về mà trong tờ trình có chỗ không tiện chép ra."
"Thưa, chỗ nào?"
"Chỗ có người hỏi, mà cả đoàn không ai đáp được."
Đôn im lặng. Trong đầu ông, một cách rất tự nhiên, hiện lên mấy cái tên sách, mấy bộ sử, mấy chỗ ông biết là trong kinh chỉ có một bản duy nhất và bản ấy mối đã ăn mất góc.
"Ông nghĩ gì thì nói ra, đừng ngồi tính nhẩm trước mặt tôi." Quan Bồi tụng nói.
"Thưa, tôi đang nghĩ là tôi thiếu sách."
"Thiếu sách thì sang bên ấy mà mua. Nghe nói chợ sách bên ấy bán cả những bộ mà ta chỉ nghe tên." Ông rút thêm một tờ nữa. "Còn bây giờ ông nghe cho kỹ đoạn này, vì đây mới là đoạn người ta nhắc ông. Đoàn sứ đi ra khỏi cửa ải thì không còn là ba người có tên trên giấy này nữa. Nó là cả nước. Ông làm hỏng việc gì ở bên ấy, người ta không nói Lê Quý Đôn hỏng. Người ta nói nước Nam thế đấy."
"Thưa, tôi hiểu."
"Ông hiểu bằng chữ thôi. Sang tới nơi ông sẽ hiểu bằng chỗ khác." Quan Bồi tụng đặt chén xuống. "Ngày khởi hành chưa định. Lễ vật còn phải kiểm, văn thư còn phải soạn, phải soạn kỹ vì đây là văn báo tang, sai một chữ là không sửa được nữa. Ông về, thu xếp việc trong viện, giao lại cho người khác. Vài hôm nữa Chánh sứ họp mặt cả đoàn."
Đôn đứng lên, chắp tay. Ông đã ra tới cửa thì quan Bồi tụng gọi với theo.
"Này. Ông đã đi xa bao giờ chưa?"
Đôn dừng lại ở bậc cửa, quay nửa người.
"Thưa, tôi đi Sơn Nam, đi Kinh Bắc, về quê Diên Hà."
"Không, tôi hỏi xa kia."
"Thưa, thì xa nhất là Diên Hà."
Quan Bồi tụng gật đầu, cúi xuống chồng giấy của mình, và không nói thêm gì nữa.
Ra tới ngoài, nắng đã xế. Mấy người lính đã gỡ xong dải lụa điều cuối cùng, đang trèo lên thay vào đó một dải vải trắng. Đôn đứng lại giữa sân một lúc, nhìn cái dải vải ấy được kéo căng ra, và nghĩ một điều rất nhỏ, rất không đúng lúc.
Ông chợt nhận ra mình chưa từng ngủ một đêm nào ngoài bờ cõi nước mình, và bây giờ ông sắp ngủ ngoài ấy gần bảy trăm đêm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →