Gian đối chiếu của Viện Hàn lâm quay mặt về hướng đông, nên buổi sáng là lúc sáng nhất trong ngày, và cũng là lúc người ta phải làm việc nhanh nhất. Qua giờ ngọ, nắng bỏ đi mất, ánh sáng hắt vào từ sân chỉ còn đủ đọc chữ to. Ai muốn soi chữ nhỏ thì phải đợi tới hôm sau, hoặc chịu tốn dầu.
Đôn đã ngồi ở cái chiếu góc trong từ lúc trống canh năm vừa dứt.
Trước mặt ông là hai quyển sách cùng một tên. Một quyển bìa giấy bồi đã ngả nâu, giấy in mộc bản, chữ nét dày, góc dưới bị mối ăn lẹm mất chừng nửa ngón tay. Quyển kia mới tinh, giấy trắng, bìa lụa, chữ chép tay đều tăm tắp, đẹp tới mức nhìn lâu thì mỏi mắt.
"Thưa, bản chép mới này của phủ nào hiến vào ạ?" Cẩn, viên thư lại trẻ nhất trong gian, hỏi lúc đặt xuống cạnh ông một chén nước vối còn bốc khói.
"Trong hồ sơ ghi là của một viên quan về trí sĩ ở Sơn Nam, hiến năm ngoái." Đôn không ngẩng lên. "Ông ấy thuê thợ chép lại ba bộ, hiến vào viện một bộ."
"Chép đẹp thật đấy ạ."
"Đẹp." Đôn đồng ý. "Anh đọc giúp tôi quyển in cũ, tờ hai mươi mốt, mặt sau, bắt đầu từ chữ thứ nhất hàng thứ ba."
Cẩn kéo quyển cũ lại gần, hắng giọng, rồi đọc. Giọng cậu ta đều, có chỗ hơi vấp vì chữ bị mối gặm. Đôn dò theo trên bản chép mới, ngón trỏ trái đặt sát mép giấy, không chạm vào mặt chữ.
Được chừng bốn mươi chữ, ông đưa tay ra.
"Dừng."
Cẩn dừng, mắt vẫn dán vào sách. "Thưa, cháu đọc sai ạ?"
"Anh đọc đúng. Anh đọc lại từ chữ 'phàm' cho tôi nghe một lần nữa."
Cẩn đọc lại. Lần này chậm hơn.
Đôn đặt ngón cái lên gáy quyển sách chép tay, miết dọc xuống một đường, rồi miết ngược lên. Cái gáy sách mới, hồ còn cứng, sột soạt dưới ngón tay ông. Cẩn liếc nhìn cái tay ấy, rồi quay đi chỗ khác, như mọi người trong gian đã học được cách quay đi khi thấy ông làm vậy.
"Bản mới thiếu mười chín chữ." Đôn nói.
"Thiếu ạ?" Cẩn nhoài sang. "Cháu nhìn không thấy chỗ nào tẩy xóa cả. Chữ nào ra chữ nấy, hàng nào ra hàng nấy."
"Vì người ta không tẩy xóa gì. Người ta chỉ nhảy mất một dòng." Đôn xoay quyển sách cũ lại, chỉ vào hai chỗ cách nhau đúng một hàng. "Anh nhìn đây. Chữ 'phàm' này nằm cuối hàng ba. Xuống dưới hai hàng, cũng có một chữ 'phàm' nữa, cũng nằm gần cuối hàng. Thợ chép đang viết, ngẩng lên nhúng mực, cúi xuống tìm lại chỗ cũ, mắt bắt vào chữ 'phàm' thứ hai và chép tiếp từ đó."
"Thế thì một dòng ở giữa bay đi đâu ạ?"
"Bay đi mất. Không ai giữ lại cho nó cả." Đôn nhúng bút, ghi một dòng nhỏ vào tờ giấy nháp bên tay phải. "Bệnh này thợ chép nào cũng mắc. Chép càng nhanh càng hay mắc. Chữ càng đẹp lại càng khó nhìn ra, vì mắt người đọc bị cái đẹp dỗ đi."
Ở đầu gian bên kia, quan Thị giảng họ Ngô, người hơn Đôn mười mấy tuổi, đang phơi mấy tờ chiếu cũ ra chỗ có nắng cho bay ẩm. Ông này nghe hết, không ngoảnh lại, chỉ nói vọng sang.
"Bộ ấy cả kinh thành có mấy người đọc, ông Thị thư? Mà đọc thì đọc tới tờ hai mươi mốt là cùng."
"Thưa, hôm nay thì không mấy người." Đôn đáp, giọng vẫn bằng phẳng như đang nói về thời tiết. "Nhưng ba mươi năm nữa bản in cũ mục hết, người ta chép lại từ bản đẹp này. Sáu mươi năm nữa có người dẫn nó ra để bàn một việc. Lúc ấy cái dòng bị bỏ mất không còn là mười chín chữ nữa."
"Thế nó là gì?"
"Nó là một câu người xưa không hề nói."
Quan Thị giảng cười khẽ, phủi tay vào vạt áo. "Ông thì cứ chỗ nào có chữ là ông đào tới tận rễ. Cẩn, rót cho ông ấy chén nước, ông ấy nói khô cả cổ."
"Cháu rót rồi ạ." Cẩn chỉ vào chén nước vối đã nguội ngắt bên cạnh chồng sách, không ai đụng tới.
Đôn cầm chén lên, uống một hớp, và đúng lúc ấy thì nhớ ra mình đã ngồi liền từ sáng. Cái vai phải mỏi nhức lên khi ông xoay người. Ngoài sân, hai người lính coi cổng đang kéo lê một cái sập gỗ ra chỗ nắng, tiếng gỗ miết trên gạch nghe rợn cả chân răng. Xa hơn, bên kia tường viện, có tiếng rao bán bánh đúc.
"Thưa, thế bộ này ta trả lại phủ Sơn Nam hay ta giữ ạ?" Cẩn hỏi.
"Giữ. Viết một tờ kê những chỗ sai, kẹp vào giữa bìa với tờ đầu, đừng dán. Ai mượn sách thì người ta thấy tờ kê trước khi thấy chữ."
"Vâng ạ. Thưa, cháu hỏi thêm một câu."
"Hỏi đi."
"Sao ông biết đúng mười chín chữ mà không phải mười tám hay hai mươi? Ông có đếm đâu ạ."
Đôn đặt chén xuống. "Tôi đếm. Lúc anh đọc lại lần thứ hai."
Cẩn ngồi im một lát, rồi cúi xuống mài mực, và không hỏi nữa.
Buổi trưa hôm ấy trôi đi đúng như mọi buổi trưa khác ở Viện Hàn lâm. Mực khô trên nghiên phải chế thêm nước hai lần. Một con chim sẻ lọt vào gian, đập cánh loạn xạ trên xà nhà chừng nửa khắc rồi tự tìm được đường ra. Quan Thị giảng thu mấy tờ chiếu phơi nắng vào, xếp lại theo niên đại, càu nhàu về chuyện giấy đời trước tốt hơn giấy bây giờ.
Đôn chép nốt tờ kê thứ hai. Ông vừa đặt bút xuống thì ngoài sân có tiếng chân chạy, không phải kiểu chân của người trong viện.
Người lính coi cổng vào trước, đứng nép một bên cửa. Sau lưng anh ta là một viên lại mặc áo xanh, mũ đội lệch vì đi vội, hai ống quần lấm bùn tới đầu gối dù trời đã tạnh từ hôm kia. Cả gian ngẩng lên cùng một lúc.
"Bẩm các quan." Viên lại thở gấp, mắt đảo qua một lượt rồi dừng lại ở góc trong. "Có phải quan Hàn lâm Thị thư Lê Quý Đôn ngồi đây không ạ?"
Đôn đứng dậy. Bàn tay phải ông vẫn còn đặt trên gáy quyển sách chép tay, ngón cái miết xuống một đường cuối cùng rồi rời ra.
"Tôi đây."
"Bẩm, trên triều cho gọi. Xin quan theo tôi về ngay bây giờ."
Quan Thị giảng họ Ngô đặt chồng chiếu xuống sập, ngoảnh sang nhìn, không nói gì. Cẩn thì đứng hẳn dậy, tay còn cầm thỏi mực.
Đôn nhìn viên lại, rồi nhìn hai ống quần lấm bùn của anh ta.
"Anh đi từ đâu tới đây?"
"Bẩm, từ trong phủ. Cháu chạy bộ, không kịp lấy ngựa."
"Việc gì?"
"Bẩm quan." Viên lại cúi thấp hơn một chút. "Cháu chỉ được lệnh mời quan về, không được cho biết việc gì ạ."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →