"Theo quy định, y quan được đi bốc thuốc ban đêm."

Học chính Thạc đứng ở ngưỡng cửa phên gian chái đình Bàu Mặn, tay cầm đèn lồng. Không có lính.

Thầy Khiêm ngồi trên chõng, tay nải đã buộc bên cạnh, bút và thỏi mực nằm sẵn trong đó. Ánh đèn lồng rọi vào, bóng cái cân tiểu ly trên đùi ông dài ra trên vách, quả cân và đĩa đồng thành một vệt đen mảnh.

Ông nhìn Thạc. Thạc không nhìn vào gian chái. Thạc nhìn cái đèn lồng trong tay mình.

"Học chính biết tôi bốc thuốc ở đâu."

"Tôi biết y quan mang theo cái cân."

"Học chính ghi gì?"

"Y quan đi bốc thuốc."

Thạc cúi xuống, đặt cây đèn lồng lên ngưỡng cửa. Rồi ông đi.

Ông cất cái cân vào tay nải, xách cây đèn lồng Thạc để lại, ra sân.

Ở bến đò ngang, một người ngồi sẵn trong đò, mái chèo gác ngang đùi. Lý trưởng Bồi, áo dài the thâm, khăn xếp, như đi ăn giỗ.

"Tôi chở thầy qua. Tôi không hỏi."

"Lý trưởng không sợ à?"

"Sợ." Bồi đỡ ông bước xuống đò. "Mà hôm nước lên, Bà giữ bãi cho làng tôi."

"Bà giữ, không phải tôi."

"Thì tôi chở người Bà cần."

Bồi chèo. Mái chèo chạm nước nhẹ, như sợ đánh thức ai.

"Thầy qua rồi thầy có về không?"

"Lý trưởng chờ thì tôi về."

"Tôi chờ. Tôi ngồi đò quen rồi."

Đò cập chân mũi đất. Bồi không lên. Ông ngồi lại trong đò, mái chèo gác ngang.

Mệ Vén ngồi chờ ở am, đèn dầu đã thắp đặt trên bậc. Tấm lưới không có trong lòng mệ. Hai bàn tay mệ đặt trên đầu gối, vẫn đưa đi đưa lại như đang vá.

"Ông thầy tới rồi."

"Tôi xin mệ cái hũ."

"Hũ của Bà. Giữ thôi."

"Thì tôi xin Bà."

"Ông thầy xin được răng?"

"Tôi viết."

Mệ nhìn ông lâu. Rồi mệ đứng dậy, đi vào trong am, quỳ xuống trước bàn thờ gạch thấp.

Hai người đào cái hũ sành dưới bàn thờ. Mệ bới bằng hai bàn tay. Ông bới bằng một que tre.

"Ông thầy bới nhẹ tay. Hũ mỏng."

"Dạ."

"Năm nay chôn lại hai lần rồi. Tháng Tư một lần, tháng Năm một lần. Lần nào cũng sợ bể."

"Bấy nhiêu năm không bể thì giờ không bể."

"Ông thầy nói như thầy bói."

"Tôi là thầy thuốc. Thầy thuốc cũng nói bậy."

Cái hũ lên, miệng bịt lá, dây buộc đã mục.

"Lần tháng Năm ông thầy mượn một đêm," mệ nói. "Lần này ông thầy mượn bao lâu?"

"Lần này tôi không trả lại, mệ."

"Thì không phải mượn."

Mệ gỡ lá. Ông thò tay vào, lấy cuộn sắc ra.

Mối đã ăn mép, đầu cuộn mất một đoạn. Ông trải cuộn sắc trên phiến đá chân tường, dưới đèn lồng. Sóng nước trên nền giấy mờ như sương.

Ở cuối tờ có một chữ ký. Ba chữ. Nét ngang đầu chữ thứ ba vạch dài quá, run, đứt ở giữa rồi nối lại.

Ông nhìn lâu.

"Chữ ông thầy đó hả?" mệ hỏi.

"Dạ."

"Run quá."

"Hồi đó tôi hai mươi bảy."

"Hai mươi bảy mà tay như người tám chục."

"Dạ. Tôi biết."

Ông mở tay nải, lấy thỏi mực. Mệ đẩy sang một viên gạch mẻ góc lõm lòng. Ông đổ một chút nước từ ấm của mệ lên mặt gạch, mài mực. Thỏi mực đi vòng tròn trên lòng gạch. Ông trải một tờ giấy bản lên mặt đá cạnh cuộn sắc, chấm bút, viết.

"Con là Đường Tôn Khiêm, người đã ký tờ sắc này. Nay xin mở cái tay đã ký. Trả bằng cái con có. Kính xin..."

Tới đó ngòi bút chạm giấy, định đi nét đầu của tên Bà. Tay ông cứng lại. Không run. Cứng, như ai nắm cổ tay ông giữ chặt. Ngòi bút đứng trên giấy, mực thấm ra một chấm.

Ông nhấc bút lên. Chấm mực nằm đó.

Ông viết tiếp, cạnh chấm mực: "người vá lưới trên tháp cửa sông Nộ soi xét, xin chứng giám."

Mệ nghiêng đầu nhìn tờ giấy. Mệ không biết chữ, mệ nhìn chỗ chấm mực.

"Ông thầy viết tên Bà chưa?"

"Tay tôi không cho."

"Rứa cũng là Bà."

Ông chấm mực lần nữa. Ông ký.

Tay run. Ngòi bút lệch, rung, nét ngang đầu chữ thứ ba đi lệch lên. Mà nét đi được. Ba chữ, đủ nét, xiêu.

Ông đặt bút xuống mép gạch.

Ông lấy trong tay nải ra một nén nhang, châm vào đèn lồng. Ông cầm tờ sớ đặt lên trên cuộn sắc mục.

"Đốt cả hai hả ông thầy?"

"Dạ. Cả hai."

"Giữ mấy chục năm. Đốt một chút là hết."

"Dạ. Một chút."

Ông châm nhang vào góc giấy.

Lửa bắt mép giấy bản, rồi bắt sang giấy sắc mục, nhanh như bắt lá khô, liếm qua ba chữ ký run ở cuối.

Trên tường tháp sau lưng ông, lớp chữ Nho còn lại nứt từng đường. Tiếng lách tách như gạch nung trong lò. Mấy mảng rơi xuống cát. Dưới ánh đèn lồng và ánh lửa, lớp hình hiện ra rõ: cây kim đan, những mắt lưới để trống, những con cá non chui qua.

Mệ Vén mở miệng.

"Bà Chừa."

Mệ nói được.

Mệ đặt tay lên miệng mình.

Trên gờ tháp, cái bóng người vá lưới quay đầu lại. Bà nhìn xuống chỗ mệ Vén ngồi. Bà không nhìn ông.

Ngoài cửa sông, trên một cọc đăng mục nhô khỏi mặt nước, một ông già áo tơi ngồi im, người ướt. Ông già ấy không nói gì.

Mệ nói lại, nhỏ, như thử một bậc thang cũ còn chịu được sức người không.

"Bà Chừa."

Thầy Khiêm ngồi xuống chân tường. Đống lửa nhỏ đã tàn, chỉ còn tro đỏ. Ông đặt hai bàn tay lên đầu gối.

Hai bàn tay nằm yên.

Mười ngón tay gầy, đốt to, không ngón nào động.

Một sợi tóc rơi xuống mu bàn tay trái ông. Sợi tóc trắng.

Mệ Vén nhìn lên đầu ông một lúc. Mệ không nói gì về tóc.

"Ông thầy ngồi đó. Mệ đi nấu nước."

Mệ đứng dậy, cầm cái ấm, đi xuống bãi.

Ông ngồi lại một mình dưới chân tường. Ông mở tay nải, lấy cái cân tiểu ly ra, đặt lên đầu gối. Ông nhặt một quả cân, đặt lên đĩa đồng.

Đĩa không lắc.

Ông nhìn cái đĩa đồng nằm yên một lúc. Rồi ông nhấc quả cân lên, cất vào lại.

Hết Chương 93
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 94 →
← TrướcTiếp →