Nắp hòm sắc bật ra, kêu bộp một tiếng ẩm. Dưới mái am, lý trưởng Bồi ngồi bệt trên chiếu, hai tay còn dính nước, nhìn vào lòng hòm. Cuộn sắc nằm trong đó, sũng, nặng, mùi mực cũ và mùi ẩm bốc lên, giấy vàng dính bết vào nhau thành một cục, son loang ra thành từng vệt hồng nhạt chảy dọc mép giấy.
Mưa đã ngớt. Giọt nước từ mái ngói rơi xuống bậc đá, thưa, tách, tách.
Kình ngồi xuống cạnh ông, lưng mỏi, mắt cay. Nó chưa ngủ từ hôm qua. Cộc ngồi lặng trên vai nó, không nhúc nhích.
"Đình tôi có sắc," Bồi nói. Giọng ông nhỏ, khản. "Sắc ướt hết rồi, mà nước vẫn lên."
"Dạ."
"Đêm qua nửa bãi đứng." Ông nhìn nó, mắt đỏ, đôi mí sưng. "Ai giữ?"
"Bà trên tháp."
"Bà không quen làng tôi."
"Giờ quen rồi."
"Làng tôi chưa cúng Bà ngày lẻ lần nào."
"Bà không đếm ngày."
Bồi nhìn nó thật lâu, rồi ngước lên theo cái nhìn của nó. Gờ tháp cụt trống trơn, chỉ có chim biển đậu, đen nhỏ. Không có bà già, không có tấm lưới. Ông nhìn xuống hòm.
"Bà có nghe tôi nói không?"
"Con không biết."
"Cậu thấy Bà."
"Dạ, con thấy."
"Bà giống gì?"
"Giống bà già vá lưới."
"Chỉ vậy?"
"Chỉ vậy. Bà không giống gì khác."
"Làng tôi lo Bà giận."
"Bà không giận. Bà vá lưới."
"Vá lưới là giận hay không giận?"
"Là đang vá."
Bồi thở dài, nghe như hơi bóp ra khỏi ống bễ.
Ông im. Một giọt nước từ mái rơi xuống đúng nắp hòm, nghe cộp. Ông đưa tay ra, định cuộn cuộn sắc lại cho gọn.
"Đừng cuộn."
Thầy Khiêm đứng ở ngưỡng am, áo chàm ướt, quầng thâm dưới mắt đậm như vết mực. Ông vừa leo lên từ bãi, hơi thở nặng. Ông đi suốt đêm chữa người, từ căn nhà này sang căn nhà khác, tay còn dính vôi ngải.
"Đừng cuộn. Trải ra."
"Dạ?"
"Sắc ướt thì để trải. Cuộn lại là gãy."
"Ông thầy biết giữ sắc?"
"Tôi biết."
Bồi không hỏi thêm. Ông tránh sang một bên, nhường chỗ. Thầy ngồi xuống chiếu, hai tay đỡ cuộn sắc ra khỏi hòm. Giấy rỉ nước qua kẽ ngón tay ông. Ông cầm nó như cầm một con chim ướt.
"Kình. Chiếu."
"Dạ."
Nó trải chiếu ra bên cạnh, rộng ra tới sát mép bậc. Thầy đặt cuộn sắc lên chiếu, mở từng vòng, ngón tay ông tìm mép giấy, nhấc từng lớp dính, tách ra bằng móng tay cái. Lớp giấy thứ nhất bong, thứ hai bong. Mỗi lớp lộ ra một mảng nền vàng với những vân sóng mờ, nhấp nhô như mặt nước nhìn từ trên cao.
"Gạch," ông nói. "Bốn viên."
Kình chạy xuống chân tháp, nhặt bốn viên gạch đỏ vỡ rơi ở rìa lối đá, ôm lên. Nó đặt một viên lên mỗi góc, ấn chắc, chặn tờ sắc cho khỏi cuộn lại. Giấy phẳng ra dần, dưới ánh sáng xám sau mưa, nền vàng loang, son hồng, những vệt chữ trôi nhòe không còn đọc được.
Bồi nhìn không chớp.
"Cái này," ông nói, "sống lại không?"
"Không sống lại. Nhưng giữ được hình." Thầy ngẩng lên. "Để khô từ từ, trong bóng. Đừng phơi."
"Tôi nhớ."
"Đừng quạt."
"Tôi nhớ."
Thầy gật, đứng dậy, hơi lảo đảo. Kình đưa tay đỡ khuỷu, ông gạt nhẹ.
"Ta không sao. Con ngồi nghỉ."
"Thầy ngồi trước."
"Ta ngồi sau."
Thầy ngồi xuống bậc thềm am, chậm, từng khớp một. Kình lấy cái áo khô trong bọc đưa ông. Ông khoác lên vai, không nói gì, mắt nhìn ra bãi.
Dưới bãi, khói bếp bốc lên. Chị Mận dựng một nồi cháo lớn trên ba ông táo đá giữa cát, nồi to bằng cái thúng nhỏ, khuấy bằng cái vá dài. Hai làng đã ngồi quanh. Đàn bà Bàu Mặn ngồi chung chiếu với đàn bà Mũi Vá, trẻ con ngồi lẫn lộn. Ghẹ đi quanh, chia muỗng.
"Muỗng này của Mũi Vá, muỗng này của Bàu Mặn," nó nói, dõng dạc. "Ai không có muỗng thì húp."
"Húp sao húp?" một đứa nhỏ Bàu Mặn hỏi.
"Kề miệng vào bát, húp ừng ực." Ghẹ làm mẫu.
Cả đám cười rộ.
Bồi xuống cùng Kình. Ông ôm cái hòm trống, đứng ở rìa vòng người, ngập ngừng. Rồi ông mở đáy hòm, lấy ra một gói lá chuối buộc dây lạt, đưa cho chị Mận.
"Muối còn khô," ông nói. "Có chừng này."
Chị Mận mở gói. Trong đó là một hũ sành nhỏ, nắp đậy bằng sáp, bên trong muối hạt trắng khô, vài trăm hạt.
"Rứa thì nêm nồi cháo."
"Chị không để dành?"
"Nồi cháo đói thì để dành làm chi." Chị Mận đổ muối vào nồi, khuấy hai vòng. "Làng này nuôi chượp, không nuôi muối. Cảm ơn ông."
"Chị cảm ơn tôi cái gì? Muối của làng tôi tan hết rồi."
"Thì cảm ơn chừng còn lại."
Bồi cúi đầu, rất thấp. Ông không nói gì.
Ghẹ chạy tới, chìa cho Kình cái muỗng cuối cùng còn lại trong tay.
"Anh lấy muỗng không? Tui chia hết rồi, còn cái này."
"Ghẹ để lại cho tui?"
"Anh ngồi trên tháp cả đêm."
"Ai nói vậy?"
"Ba tui nói. Ba tui nói anh nói chuyện với gió."
"Gió trả lời rồi."
"Thiệt hả?"
"Thiệt. Gió nói cám ơn muỗng."
Ghẹ cười hở răng sún, chạy đi, gót chân đen nhẻm đạp tung cát. Giữa vòng người, mệ Vén ngồi cạnh một bà Bàu Mặn, hai người chung một cái bát, mỗi người một muỗng, không ai nhìn ai.
Kình múc một bát cháo. Cháo bốc hơi, trắng đục, mùi cá đối quyện với muối mới, nóng tới rát môi. Theo thói quen, nó múc một muỗng, đưa lên vai.
Cộc cúi xuống ăn. Cái miệng nhỏ chạm muỗng, nuốt, ít hơn mọi lần. Nó để lại nửa muỗng.
Kình ăn nốt nửa muỗng ấy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 76 →