Cái then gỗ trượt khỏi khấc kêu khục, giống hệt tiếng đêm hôm trước, chỉ ngược chiều. Kình đẩy cửa chòi. Bên trong không ai chờ.
Nồi sắc úp dưới gầm phản, nguội. Hòm thuốc vẫn buộc dây. Hòn đá xám vẫn nằm trên xấp đơn thuốc.
Giờ Thìn, đò ngang từ Bàu Mặn sang. Thầy ngồi giữa đò, áo chàm, hai tay úp trên đầu gối. Ở đầu đò có một tên lính áo xanh ngồi ôm cây giáo, ngáp.
Thầy lên bãi, đi thẳng tới chòi. Tên lính đi sau ba bước, rồi ngồi xuống bậc cửa, dựa lưng vào vách, ngủ tiếp.
Ngày đầu không ai tới.
Thầy ngồi trên phản tới trưa, gói sẵn mấy gói thuốc ho rồi để đó. Kình ngồi ở bậc cửa, cạnh tên lính đang ngủ.
"Thầy. Không ai tới."
"Ừ."
"Mai có người tới không thầy?"
"Không biết."
"Vậy thầy qua làm gì?"
"Ta qua thì chòi mở. Chòi mở thì người ta biết có chỗ mà tới." Thầy buộc lạt một gói. "Tới hay không là việc của họ."
"Vậy con ngồi đây chờ với thầy."
"Con đi học bơi."
"Con học rồi. Sáng nay con bơi được chín sải rưỡi."
Thầy ngẩng lên.
"Rưỡi là sao?"
"Là con chìm giữa sải thứ mười. Thằng Ghẹ lôi lên."
"Vậy mai con bơi chín sải rưỡi nữa. Rồi mốt mười."
"Thầy nói như đếm thuốc."
"Ta chỉ biết đếm có vậy."
Ngày thứ hai có một người đàn ông dắt đứa con trai bị sốt, đứng ở đầu bãi nhìn vào chòi một lúc lâu rồi quay về. Kình nghe người ta nói anh ta qua đò sang Bàu Mặn hỏi thầy lang làng muối. Ngày thứ ba có người đứt tay vì dao cạo vảy, không tới chòi, ra chỗ chị Mận xin một vốc nước mắm đắp lên.
Chị Mận thì sáng nào cũng tới.
Chị ngồi xổm trước phản, chìa hai bàn tay ra. Vết nứt muối trên các đốt ngón đã liền miệng mấy chỗ, còn mấy chỗ mới.
"Ông thầy coi giùm em."
"Chị rửa nước vo gạo chưa?"
"Dạ rồi. Sáng chiều."
"Chỗ này lành rồi. Chỗ này mới." Thầy chỉ. "Đảo chượp xong chị đừng chùi tay vào áo."
"Dạ, em quên hoài."
Chị để lại trên phản một chén mắm.
"Cho thầy ăn cơm."
Sáng thứ tư, mệ Vén chống gậy đi trên bãi. Một tay chống gậy, một tay xách nồi cháo đất bằng quai mây. Mệ đi chậm tới mức Kình chạy ra đỡ nồi mà mệ không đưa.
Mệ đặt nồi cháo lên phản. Mệ mở nắp. Cháo trắng, có mấy lát cá.
"Ăn đi."
Thầy nhìn nồi cháo.
"Tôi không đau, mệ."
"Không đau thì ăn. Đau thì ăn nhiều."
Thầy cầm muỗng. Thầy ăn. Mệ đứng nhìn tới khi thầy ăn được nửa nồi mới quay về.
Chiều hôm ấy, Thạc qua sông. Ông đi tới am, một thư lại theo sau cầm hộp hồ dán và một tờ giấy cuộn. Mấy người Mũi Vá đang vá lưới gần đó đứng dậy đi lại xem. Kình đi theo.
Thạc dán tờ giấy lên vách am, cạnh tấm bảng cũ đã cạo trắng. Ông miết bốn góc bằng lòng bàn tay. Rồi ông quay lại, đọc to.
"Theo quy định, hồ sơ có lời tự cáo của người ký phải trình về kinh trước khi luận. Am giữ nguyên trạng: thắp nhang như cũ, không thêm lễ, không lập bài vị, chờ lệnh."
Ông Trùm Lạc đứng ở hàng đầu. Ông chắp tay sau lưng.
"Thưa ông Học chính. Vậy làng có tội không?"
"Chưa luận thì chưa có." Thạc cuộn sổ lại. "Xin ông hiểu cho."
"Chưa có, nghĩa là sau này có?"
"Nghĩa là chưa có, thưa ông."
Ông Trùm thở ra một hơi dài, như người vừa đặt xuống một thúng cá nặng. Thạc gật đầu chào, rồi đi về bến.
Chiều xuống. Kình ngồi bệt trên bậc đá vỡ đầu tiên, mái chèo gác ngang đùi. Mệ Vén ngồi xổm cạnh am, ngón tay đan.
"Mệ."
"Ừ."
"Hôm rằm mệ cúi đầu với ai vậy mệ?"
"Với cái tường."
"Không phải với thầy?"
"Răng con hỏi?"
"Con muốn biết."
Mệ không nhìn nó. Mệ nhìn tường tháp, chỗ mặt tường ửng đỏ trong nắng chiều.
"Ông thầy nói được," mệ nói. "Mệ không nói được. Mệ cúi."
Kình ngồi im một lúc.
"Mệ không giận thầy?"
"Giận thì cũng nấu cháo."
"Nấu cháo cho người mình giận hả?"
"Người đói thì ăn cháo. Giận là chuyện khác."
"Chuyện khác là chuyện gì?"
"Chuyện của Bà."
Kình định hỏi tiếp. Mệ đã quay đi, nhìn ra sông. Mặt trời xuống sau ruộng muối bên kia, đỏ ối.
Mệ ngân.
Hai tiếng thấp. Chậm. Tiếng trước như bước xuống một bậc đá. Rồi tiếng sau kéo dài, khàn ở giữa, kéo mãi.
Kình nghe hết một lượt. Lượt thứ hai, nó ngân theo. Tiếng đầu nó lệch. Tới tiếng sau, nó giữ đúng, không lên cao như lần trước, không đứt giữa chừng. Nó kéo dài cùng mệ, tới khi mệ thôi thì nó cũng thôi.
Mệ không quay sang. Ngón tay mệ dừng lại một nhịp, rồi đan tiếp.
Cộc trên vai gật gù.
"Khá," Cộc nói.
"Cha khen con hả?"
"Tao nói khá. Không nói giỏi."
Kình không ngước lên gờ tháp.
Tối, nó đứng ở bến Mũi Vá. Đò ngang chở thầy về Bàu Mặn. Thầy ngồi ở đầu đò, quay lưng về phía nó. Tên lính ngồi ở giữa, đầu gục xuống ngực, ngủ gật, cây giáo ôm trong lòng.
Đò cập bờ bên kia. Một cái bóng nhỏ bước lên bậc đá, đi về phía đình.
Kình đứng nhìn qua sông.
Mặt đình Bàu Mặn tối. Rồi có hai ngọn đèn. Một ngọn ở gian giữa, sáng sau một cái hòm gỗ sơn son đặt trên bàn thờ, cái hòm giữ sắc Thành hoàng của làng muối. Ngọn thứ hai ở gian bên cạnh, nhỏ hơn, thấp hơn, sáng lên ngay sau ngọn kia.
Kình đứng tới khi ngọn thứ hai tắt.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 57 →