Cát dưới bàn chân trần còn giữ nắng chiều, lạo xạo theo từng bước. Thầy Khiêm bước qua sợi dây gai. Sợi dây chạm vào gót chân ông, nhám, rồi ở lại sau lưng.
Hai làng im. Không ai ho. Chỉ có tiếng sóng dưới chân mũi đất, vỗ đều, không đổi nhịp.
Ông dừng trước bàn. Thạc đứng bên kia bàn, không lùi, không bước tới.
Trên bàn là tờ giấy thứ ba. Bản chép sắc tước của Giám, giấy mới, chữ chép đều từng nét. Mấy vệt son đỏ gạch ngang một dòng.
Ông cầm tờ giấy lên.
Tờ giấy rung trong tay ông. Mép giấy rung thành tiếng sột sột nhỏ, như cánh chuồn chuồn đậu trên ngọn cỏ gió.
Ông đặt nó xuống mặt bàn. Ông đặt hai bàn tay lên hai mép, ép phẳng xuống. Ông đọc như thế, cúi đầu, không cầm.
Chữ chép đẹp. Đều tay. Trong chữ "thần" ở dòng thứ hai có một cái chấm nghiêng. Chấm nghiêng về bên trái, hơi quá một sợi tóc. Ông đã thấy cái chấm nghiêng ấy trên tờ lệnh con bé thư lại đọc cho ông hôm mười bảy tháng Giêng, trong căn phòng có mùi khói lò.
Ông không nói gì về điều đó.
Ông đọc to.
"Thần cửa sông Nộ, được sắc giữ sóng cho thuyền qua lại. Nay không giữ được sóng như sắc đã giao, để đoàn thuyền thuế đắm ở cửa sông mùa bão. Nay tước."
Giọng ông chậm. Rõ từng chữ. Không lên không xuống.
"Ngư hộ hai bờ không được xưng cựu danh."
Tới dòng có vạch son, ông im.
Một nhịp. Dài đúng bằng bốn chữ, nếu người ta đọc bốn chữ ấy ra. Ông không đọc. Ông không lướt qua. Ông im đúng chừng ấy, rồi đọc tiếp dòng sau.
Không ai hỏi vì sao.
Dòng cuối của bản chép chỉ có chức. Không có tên.
"Học chính," ông đọc. Rồi ông ngừng, nhìn vào khoảng trống sau chữ ấy, nơi trên tờ thật ngày trước có một vệt mực run. Ông đọc nốt chỗ trống. "Đường Tôn Khiêm. Phụng ký."
Ông nhấc hai bàn tay khỏi mép giấy. Tờ giấy nằm yên.
"Người ký sắc này là ta."
Thầy quay lại, nhìn ra hai làng.
"Năm ấy ta hai mươi bảy tuổi. Đoàn thuyền thuế đắm ở cửa sông này mùa bão. Chánh đoàn bảo phải có người ký cho xong hồ sơ. Ta ký. Tay ta run, ta vẫn ký. Ta không cãi."
Thạc hỏi. Giọng đều, như hỏi một con số.
"Theo quy định, y quan xác nhận bản này đúng với sắc đã ký?"
"Đúng từng chữ. Mấy hôm sau ta xin rút chữ ký thì đã muộn. Ta về kinh dạy thuốc. Ba mươi sáu năm ta không quay lại đây."
Ông không nói thêm. Ông không nói tên nào. Ông không nói xin lỗi.
Thạc cúi xuống bàn. Ông đẩy sang trước mặt thầy tờ sắc đồng bộ, tờ có dấu son đỏ ở góc. Cạnh đó ông đặt một cây bút đã chấm mực, ngòi ướt.
"Xin ông hiểu cho. Ông ký giải sắc cũ, ký nhận sắc mới thì hồ sơ khép, am hợp lệ."
Thầy nhìn cây bút. Ngòi mực bóng lên dưới nắng chiều.
"Ký nữa thì tôi ký hai lần."
"Không ký thì theo lệnh, am này chờ luận."
"Tôi biết."
"Ông biết làng chịu gì không?"
"Tôi biết hơn ai hết."
Thạc nhìn ông. Ông nhìn lại Thạc.
"Theo quy định, tôi phải hỏi y quan lần nữa," Thạc nói.
"Học chính hỏi đi."
"Y quan có ký không?"
"Không."
Thạc không nài thêm. Ông cầm cây bút lên, kéo cuốn biên bản lại gần, cúi xuống viết. Ông đọc to từng chữ khi viết, như thư lại đọc cho người mù nghe.
"Y quan. Đường Tôn Khiêm. Tự nhận."
Ông đặt bút xuống.
Thầy quay mặt nhìn hai làng lần nữa.
Mệ Vén chống tay xuống cát. Mệ đứng dậy, chậm, lưng còng gập. Mệ mở miệng. Không có tiếng nào ra. Miệng mệ mở, môi run, rồi khép lại. Mệ cúi đầu một cái. Mặt mệ không quay về phía ông. Mặt mệ quay về phía tường tháp.
Ông không biết mệ cúi với ai.
Ông Trùm Lạc vẫn ngồi. Ông nói một câu, giọng khàn, không to.
"Ông nói thì ông nhẹ. Làng tôi gánh."
Rồi ông Trùm quay mặt đi, nhìn ra biển.
Bên Bàu Mặn, lý trưởng Bồi đứng lên. Ông dang hai tay ra như người lùa vịt, kéo hàng người trước mặt lùi lại khỏi sợi dây.
"Bàu Mặn lùi ra. Chuyện này không phải của mình."
Ở hàng sau cùng của Mũi Vá có một cái mái chèo dựng đứng. Thằng bé ngồi đó, không bước lên. Hai tay nó nắm cán chèo. Con vật nhỏ trên vai trái nó không rúc vào cổ áo. Nó ngồi thẳng, và nhìn thẳng vào ông.
Ông không nhìn lâu.
Thạc lật biên bản sang trang cuối, xoay ngược lại cho ông, đẩy tới mép bàn. Cạnh đó ông đặt lại cây bút.
"Theo quy định, biên bản cần người tự nhận xác nhận."
Thầy nhìn cây bút. Ông không cầm.
"Tôi không ký thêm gì nữa."
Thạc im một lúc. Rồi ông quay sang tên thư lại đứng sau. Tên thư lại mở cái hộp gỗ nhỏ đeo bên hông, lấy ra một hộp son dẹt, mở nắp, đặt lên bàn.
Thầy chấm ngón cái vào son. Son lạnh, mịn, bám vào vân tay.
Ông ấn ngón cái xuống cuối biên bản, dưới dòng chữ Thạc vừa viết.
Ngón tay ép xuống thì không run.
Ông nhấc tay lên. Trên giấy là một vệt son đỏ trầm, có vân, như dấu một con ốc vừa bò qua cát ướt.
Thạc nhìn dấu điểm chỉ. Ông thổi nhẹ lên nó một hơi cho khô.
"Y quan có muốn ghi thêm gì không?"
"Không."
"Biên bản này theo trạm về kinh."
"Tôi biết nó đi đâu."
"Theo quy định, tôi không được thêm lời của mình vào đây." Thạc gấp biên bản lại. "Nên tôi không thêm."
"Học chính không cần thêm."
"Vâng." Thạc ngừng một nhịp. "Đủ."
Chạng vạng xuống. Người tản dần.
Thầy đứng lại cạnh cái bàn. Ngón cái ông còn đỏ son.
Ông ngước nhìn lên gờ tháp.
Trên gờ cụt có một bóng bà già ngồi. Lưng còng, tóc búi thấp. Tấm lưới dài thả từ gờ xuống tận mặt nước xanh tối, lờ mờ như ông vẫn thấy được các thứ ấy.
Bà không quay lại. Cây kim tre trong tay bà chạy đều, qua một mắt, qua một mắt nữa, không dừng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 53 →