Bốn chân bàn gỗ cạ xuống nền gạch vỡ kêu ken két. Hai tên lính khiêng cái bàn lên tới chân tháp, đặt xuống trước am, xoay qua xoay lại cho khỏi cập kênh, rồi chêm một mảnh gạch dưới chân bàn thứ tư.
Tên lính thứ ba kéo một sợi dây gai từ cọc này sang cọc kia, căng ngang bãi. Dây sát đất, cao chừng mắt cá. Mũi Vá phía tháp. Bàu Mặn phía bến.
Tấm bảng trên vách am đã bị cạo trắng chỗ con số. Không còn số nào.
Kình đứng nhìn một lúc rồi đi qua chòi nhà thuốc. Trời mới hửng.
Thầy đã dậy. Tóc ông còn ướt, búi lại gọn, mấy giọt nước còn đọng ở chân tóc. Ông mặc tấm áo lang y chàm cũ, cái áo ông mặc từ hồi ở Giám, đã giặt, phơi khô, gấp nếp thẳng. Ông đang ngồi trên phản gói thuốc. Gói nào cũng gấp bốn góc, buộc lạt.
"Con vô đây," thầy nói. "Gói này của bà cụ nhà bên. Con sắc cho bà. Lửa nhỏ."
"Dạ."
Kình nhận gói thuốc. Nó không đi. Nó đứng ở cửa, nhìn cái áo.
"Thầy định nói bữa nay hả thầy?"
Thầy buộc xong một gói, đặt lên chồng.
"Con ăn sáng chưa?"
"Thầy."
"Ăn đi rồi sắc thuốc. Thuốc này phải sắc lửa nhỏ."
"Con hỏi thầy mà."
"Ta nghe." Thầy cầm gói khác. "Nồi cháo trên bếp, chị Mận đem qua hồi sớm. Còn ấm."
Kình nhìn ông. Thầy không ngẩng lên. Ngón tay ông gấp góc giấy thứ ba, ngón cái miết cho nếp thẳng.
"Thầy ăn chưa?"
"Ăn rồi."
"Thầy ăn mấy chén?"
"Hai chén."
"Thầy nói dối."
Thầy ngừng tay. Lần đầu sáng đó ông ngẩng lên.
"Nửa chén," ông nói. "Ta ăn nửa chén. Con ăn đi."
Kình đặt gói thuốc lên phản. Nó ra bếp, múc một chén cháo, ngồi xổm ăn. Cháo cá, nhiều gừng. Nó ăn hết, vét đáy chén. Rồi nó cầm gói thuốc ra cái bếp đất ngoài hiên, nhóm lửa, đặt ấm sắc lên.
Lửa nhỏ. Nó ngồi canh. Hơi thuốc bốc lên mỏng như sợi chỉ.
Thầy ra hiên, đứng sau lưng nó, nhìn vào bếp.
"Lửa vậy là lớn."
"Dạ, nhỏ rồi thầy."
"Nhỏ nữa. Rút một que ra."
Kình rút một que củi, dụi đầu lửa xuống đất.
"Thuốc của bà cụ là thuốc ho," thầy nói. "Lửa lớn thì nước cạn trước khi thuốc ra. Bà uống vào chỉ thấy đắng."
"Đắng thì mới là thuốc chớ thầy."
"Đắng mà không ra thuốc thì là nước đắng."
"Vậy sắc bao lâu thầy?"
"Ba chén nước còn một chén. Con canh tới khi nước ngang vạch này." Ông cúi xuống, lấy móng tay vạch một nét lên thành ấm. "Rồi con chắt ra, đem qua cho bà lúc còn ấm."
"Dạ. Rồi chiều thầy..."
"Chiều con ngồi với nhà anh Sỏ."
Thầy quay vào. Ông không nói thêm câu nào về chuyện kia.
Cộc trên vai ngồi im. Nó nhìn ấm thuốc.
"Ổng gội đầu," Cộc nói, nhỏ.
"Con thấy rồi."
"Ổng ít khi gội đầu buổi sáng."
"Con biết."
Chiều, hai làng ngồi kín chân tháp. Mũi Vá ngồi trên cát phía tháp, Bàu Mặn ngồi phía bến. Sợi dây căng giữa. Không ai bước qua.
Đội hát mười hai người đứng thành một hàng cạnh bàn, áo chàm Khoa Đồng giống hệt nhau. Bà đội Giáp đứng đầu hàng. Piên ở cuối hàng, khăn chầu bạc màu quàng vai. Cô nhìn thẳng về phía trước. Cô không nhìn về phía Kình.
Mệ Vén ngồi xổm cạnh am, chỗ cũ của mệ. Mười ngón tay vẫn đưa đi đưa lại.
Kình ngồi ở hàng sau cùng của Mũi Vá, mái chèo dựng đứng giữa hai đầu gối. Thằng Ghẹ ngồi sát bên nó. Anh Sỏ và chị Mận ngồi hàng trước.
Chị Mận quay lại, nói nhỏ.
"Em ngồi lên đây với chị."
"Dạ, em ngồi đây được rồi chị."
"Ngồi sau cùng thì nghe không rõ."
"Em nghe rõ mà."
Anh Sỏ không quay lại. Anh nhìn cái bàn gỗ.
"Để nó ngồi đó," anh nói. "Mi ngồi đâu thì ngồi, đừng đứng lên là được."
"Em không đứng."
"Ừ. Tau tin mi."
Thầy không ngồi bên này. Đoàn Giám đã xếp cho ông một chỗ ở hàng đầu bên Bàu Mặn, trên một tấm chiếu riêng, cạnh chỗ thư lại.
Học chính Thạc đứng sau bàn. Ông cầm một tờ giấy, giơ ngang ngực, đọc bằng giọng đọc số.
"Theo lệnh Phòng Tế Tửu, hạn kiểm kê tháp cổ cửa sông Nộ đến hết hôm nay, rằm tháng Sáu. Bảng hạn đã hết."
Ông đặt tờ ấy xuống, cầm tờ khác lên. Giấy mới, chữ chép đều, dấu son đỏ ở góc.
"Bản sắc đồng bộ dự định phục cho tháp: Thiên Tào phụng chỉ, sắc cho Hòa Lãng chi thần trấn giữ cửa sông Nộ, giữ yên sóng cho thuyền qua lại..."
Ông đọc hết. Không ngắt. Không lên giọng ở chữ nào.
Dưới bãi có tiếng lẩm nhẩm. Một bà ở hàng giữa Mũi Vá nhẩm theo.
"Hòa Lãng chi thần."
Một người khác bên Bàu Mặn cũng nhẩm. Rồi thêm người nữa. Cái tên mới dễ, bốn chữ, nhẩm một lần là thuộc.
Mệ Vén không nhẩm. Ngón tay mệ vẫn đan. Miệng mệ khép chặt.
Thạc đặt tờ sắc mới xuống bàn. Ông cầm một tờ thứ ba, giấy cũng mới, nhưng chữ dày hơn, có mấy vệt son gạch ngang. Ông đặt nó giữa bàn, ngay ngắn, không đọc.
"Theo quy định, hồ sơ phục sắc cần người biết sắc cũ đứng ra xác nhận bản này," ông nói. "Xin mời."
Không ai động.
Gió từ biển thổi vào. Sợi dây gai rung nhẹ trên cát.
Ông Trùm Lạc ngồi ở hàng đầu Mũi Vá, nhìn sang mệ Vén. Mệ Vén không ngẩng lên. Lý trưởng Bồi bên kia nhìn xuống chân mình.
Ông Trùm nghiêng đầu sang người ngồi cạnh, thì thầm, đủ cho mấy hàng sau nghe.
"Ai mà biết sắc cũ."
Thằng Ghẹ kéo tay áo Kình.
"Anh biết không?"
Kình không trả lời. Tay nó siết cán mái chèo. Siết tới khi mấy đốt ngón tay trắng ra. Nút chỉ chàm hằn vào lòng bàn tay.
Cộc bám cổ áo nó. Bàn tay nhỏ kéo căng vải áo.
"Ngồi yên," Cộc nói, rất nhỏ. "Không phải mày."
Kình ngồi yên.
Thạc đứng chờ. Ông không nhắc lại. Ông nhìn xuống tờ giấy trên bàn, rồi nhìn ra hai làng, như người nhìn hai cột số chưa cộng.
Ở hàng đầu bên Bàu Mặn, thầy Khiêm đứng dậy.
Ông đứng chậm. Ông cúi xuống, cởi đôi dép cỏ, đặt lại ngay ngắn trên mép chiếu, mũi dép quay về phía bàn. Rồi ông đi chân không trên cát, qua sợi dây gai căng giữa hai làng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 52 →