Cái gàu gỗ của chú Gàu úp trên boong, mỗi lần ghe dội xuống sóng nó lại kêu cộp, và Kình gục đầu bên cạnh nó, má dán vào ván.
Biển động từ đêm. Hai cột buồm cọt kẹt, dây thừng căng như dây đàn. Ở bếp, nồi gang đã nằm trên lò đất từ lúc trời chưa sáng, và nồi ấy mở ra thì bốc lên một mùi đen.
Ông tài Lừng đứng nhìn vào nồi một lúc. Ông không nói gì. Ông lấy cái vá cạo lớp đáy, một mảng cơm khê đen cong như vỏ cây, hất ra khỏi mạn. Mảng cơm rơi xuống biển, nổi một nhịp rồi chìm.
Rồi ông mới mắng.
"Đi biển không ăn cơm khê. Khê thì ghe mắc cạn."
"Dạ," Kình nói, từ dưới đất.
"Tao chưa hỏi mày."
"Dạ."
Cả ghe ăn cơm trắng phần trên, không ai đụng tới phần sát đáy nồi. Kình ngồi dậy, nhìn cái nồi.
"Vậy phần dưới đáy ai ăn?"
"Cá," chú Gàu nói.
Cộc trên vai nó thở dài, dài tới mức khúc tay cụt run theo. Phần khê vốn là phần Cộc khoái nhất, và ông tài vừa hất nó xuống biển trước mặt Cộc.
Kình đứng dậy, định xúc cơm cho mười cái bát. Dạ dày nó nhào lên một cái. Nó chạy ra mạn, nôn. Lần đầu, nước chua. Lần hai, ít hơn. Lần ba, nó quay lộn lại vì chân trượt trên ván ướt và nôn đúng vào cửa khoang, nơi cái gàu úp nằm cạnh mấy bó dây.
Cả ghe cười.
Ông tài bước tới, túm cổ áo nó như túm cổ con mèo, lôi ra mạn.
"Hồn treo cột buồm. Mửa thì mửa xuống biển, đừng mửa vô khoang."
"Dạ."
"Mày nghe không?"
"Con nghe."
Chú Gàu cầm cái gàu lật lên, múc nước biển, đưa tới.
"Tát sạch đi, thằng nấu cơm."
Kình cầm gàu. Nó tát, vừa tát vừa nôn, nước biển dội ra cửa khoang chảy xuống mạn. Cộc bám cổ áo nó, giọng khàn khàn sát tai.
"Mày nói mày không sợ biển."
"Con có nói con không mửa đâu."
"Thằng này cãi giỏi."
"Cha cãi ít hơn con hả?"
"Tao cãi bằng mồm. Mày cãi bằng bụng."
Hai bữa sau Kình thôi nôn, nhưng cơm vẫn khê. Lần hai khê nhẹ, lần ba khê nhạt. Ông tài không mắng nữa. Ông cạo, ông hất, ông liếc nó một cái.
Chú Gàu ngồi xuống bên lò, chỉ que củi vào đống than.
"Than đỏ thì để. Than hồng thì kéo ra."
"Con thấy than có đỏ có hồng đâu."
"Mày canh bằng mắt. Tao canh bằng mũi."
"Mũi chú ngửi được gì?"
"Cơm sắp khê."
"Sao chú không nói sớm?"
"Nói sớm thì mày có học đâu."
Kình nhìn than. Nó kéo một cục ra khỏi lò, cục than đỏ lịm đi trên ván, tỏa mùi khét. Chú Gàu gật, không khen.
Chiều mồng 5, biển lặng. Mặt nước xám mịn, một con cá bay nhảy ra khỏi sóng rồi lại chui vô. Chú Gàu ngồi vá sợi dây, hai chân duỗi, cái gàu gỗ nằm cạnh. Kình ngồi bên, vắt hai cái áo ướt lên mạn.
"Cửa sông Nộ," chú Gàu nói, không ngẩng lên, "năm nào cũng bắt một người."
"Bắt?"
"Năm ngoái một thằng mười sáu. Năm kia một ông già đi câu."
"Ai bắt?"
"Nước bắt. Người hai làng nói Bà bắt."
"Bà nào?"
"Bà trên tháp." Chú Gàu cắn đứt sợi chỉ. "Cái tháp cụt đầu trên mũi đất. Đứng canh mà không canh."
Kình để cái áo chảy nước xuống chân.
"Bà tên gì chú?"
Chú Gàu nghĩ. Nghĩ lâu, sợi dây trong tay ngưng lại.
"Không ai nói. Ghe tao ghé đó mười mấy năm, chưa nghe ai nói."
"Chưa nghe, hay không ai biết?"
"Tao không biết." Chú nhún vai. "Hỏi ông tài đi."
Từ lái, ông tài gắt, không quay đầu.
"Đừng kể chuyện cửa sông trên biển."
Chú Gàu im, ngậm đầu dây thừng. Kình ngồi một lúc, rồi đứng dậy, lội qua mấy bó dây tới sau lưng ông tài, đứng cách hai bước.
"Ông tài."
"Gì?"
"Ông có biết đoàn Giám ở cửa sông Nộ không?"
"Ghe đen sơn mũi chạy qua mặt ghe tao hai mươi tháng Giêng, trước khi tao vô cửa sông Cái." Ông tài giữ cần lái, mắt nhìn trước. "Không chở cá, không chở muối, chạy nhanh. Tao chào, họ không đáp."
"Ghe đó chở thầy con."
Ông tài quay lại, lần đầu từ sáng.
"Thầy mày đi ghe Giám thì mày đi ghe tao làm chi?"
"Thầy con không biết con đi."
"Thầy mày không biết mà mày có một quan hai tiền?"
"Thầy Đức trả một quan. Con trả hai tiền."
"Thầy Đức là ai?"
"Là người đưa con tới cửa sông Cái."
Ông tài nhìn nó thật lâu. Mắt híp, nhìn từ trên xuống, như hôm đầu ở cửa sông Cái. Rồi ông quay lại, tay nắm cần lái chặt hơn.
"Thằng này có hai thầy."
"Dạ."
"Một thầy biết mà không nói. Một thầy không biết."
"Dạ."
"Về nấu cơm."
Kình đi. Cộc nói nhỏ trên vai nó.
"Ổng nói đúng."
"Đúng cái gì?"
"Hai thầy."
"Con có ba."
"Ba?"
"Thầy Khiêm, thầy Đức, và cha."
"Tao không phải thầy."
"Cha dạy con ăn trước rồi hỏi sau."
"Tao dạy mày ăn. Hỏi là tại mày."
Chiều mồng 6, Kình đang rửa nồi thì ông tài bỗng hét "Đây". Ông giơ cần lái lên, chỉ về phía trước.
Kình chạy lên mũi. Mặt trời sau lưng nó thấp, đỏ trầm, nước đổi màu. Phía trước, rất xa, một mũi đất đá xám nhô ra biển. Trên mũi đất có một vệt đen đứng thẳng, cao hơn đá, đầu bằng như bị chặt.
Hoàng hôn nằm ngay sau cái đầu bằng ấy, tạc nó lên trời như một cái cọc.
"Cọc gì to dữ," Cộc nói.
"Không phải cọc. Tháp."
"Tháp gì đầu bằng?"
"Tháp cụt. Chú Gàu nói."
"Cụt như tay tao."
Kình không đáp.
"Đó," ông tài nói. "Mai tao thả mày."
Kình đứng ở mũi ghe, tay nắm cán mái chèo, nhìn vệt đen ấy cho tới khi tối hẳn.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 6 →