Lưỡi dao con cạo trên tấm bảng gỗ kêu soẹt soẹt, khô như người ta cạo vảy cá phơi. Tên lính áo xanh cạo hết con số cũ, thổi phù một cái cho bụi gỗ bay, rồi chấm bút vào chén son.
Tấm bảng dán trên vách gạch cạnh am từ tháng Hai. Giấy đã ngả vàng, mép quăn vì gió muối. Chỉ có chỗ con số là còn mới, vì cứ mười ngày lại có người tới cạo một lần.
Tên lính viết. Nét son đỏ, đậm, chảy một giọt xuống chân chữ. Hắn lấy ngón tay quệt đi, nhìn lại, gật gù, rồi xách chén son đi về phía bến.
Mệ Vén ngồi xổm cạnh am từ lúc hắn tới. Mệ nhìn hắn viết từ đầu tới cuối. Mười ngón tay mệ vẫn đưa đi đưa lại trên đầu gối, đan một tấm lưới không có sợi.
Kình ngồi bệt trên bậc đá vỡ đầu tiên của lối lên tháp, mái chèo gác ngang đùi. Nó đọc con số son.
"Mệ. Mệ biết số đó là gì không?"
"Không biết chữ."
"Là còn ba mươi lăm ngày. Tới rằm tháng Sáu."
"Rằm tháng Sáu thì răng?"
"Thì hết hạn. Ông Học chính dán bảng đó từ hồi tháng Hai."
Mệ không nhìn tấm bảng. Mệ nhìn ra sông.
"Số mấy thì mệ cũng ngồi đây."
Kình xoay cái mái chèo trên đùi. Nút chỉ chàm ở cán lăn qua lăn lại.
"Mệ không sợ hả mệ?"
"Sợ thì cũng ngồi."
"Ngồi hoài vậy mệ không mỏi?"
"Mỏi thì đổi chân."
Kình cười. Mệ không cười. Mệ đổi chân thật, rút chân trái ra, xếp chân phải vào, chậm như người dời một cái thúng đầy.
"Thằng lính đó lần trước viết bốn mươi lăm," Kình nói. "Nó viết số năm xấu lắm. Cái bụng nó lòi ra."
"Xấu đẹp gì cũng là số."
"Thầy con nói chữ số phải viết cho đẹp, người ta mới tin."
"Người ta tin cái người viết. Không ai tin cái số."
"Vậy ở đây người ta tin ai?"
"Tin cái am. Am ni ba đời ông trùm rồi, chưa ai cạo được."
"Ông Học chính đâu có cạo am."
"Chưa cạo."
Gió từ biển vào, thổi tấm bảng kêu sột sột trên vách. Bên kia sông, khói bếp Bàu Mặn lên thẳng từng sợi.
"Thầy con dạo này lạ lắm," Kình nói.
"Lạ chỗ nào?"
"Thầy dạy con mỗi tối ba chữ. Có tối năm chữ. Hồi trước một tối một chữ, có tối không chữ nào."
"Rồi con học được không?"
"Được. Mà thầy viết sẵn trên giấy dài cả sải. Như sợ hết giấy."
Mười ngón tay mệ dừng lại một nhịp, rồi đan tiếp.
"Ông thầy dạy con," mệ hỏi, "hay ông thầy dạy cho ông thầy?"
"Dạ?"
Mệ không lặp lại. Kình gãi đầu. Nó nghĩ một lúc rồi cười trừ.
"Con không hiểu."
"Ừ."
"Mệ nói lại đi mệ."
"Nói rồi."
Mặt trời xuống sau dải ruộng muối bên kia sông. Ánh chiều đỏ sẫm trải lên các gò muối, rồi lan qua mặt nước xám tới tận chân mũi đất. Cái bóng của tháp đổ dài xuống bãi.
Mệ Vén ngân.
Không có lời. Hai tiếng thấp, chậm, tiếng trước như người bước xuống một bậc đá trong tối. Rồi tiếng sau kéo dài ra, kéo mãi, khàn ở giữa, như sợi dây lưới bị kéo căng mà không đứt.
Kình ngẩng lên nhìn gờ tháp.
Trên gờ có một bà già ngồi. Lưng còng, áo nâu sẫm ướt vạt. Hai tay cầm cây kim tre. Một tấm lưới dài thả từ gờ xuống tận mặt nước, mấy mắt lưới rộng hơn các mắt khác.
Kim trong tay bà chạy đều. Tới tiếng sau mệ kéo dài, cây kim dừng lại.
Nó đứng yên giữa một mắt lưới, ngay chỗ sợi gai chưa kịp thắt.
Mệ Vén thôi ngân. Cây kim chạy tiếp.
Bà không quay đầu. Mệ Vén cũng không ngẩng lên. Mệ nhìn sông, ngón tay đan.
Kình nhìn mệ. Rồi nhìn lên gờ. Rồi nhìn lại mệ.
"Mệ ru ai vậy mệ?"
"Ru Bà ngủ. Bà thức cả đêm."
"Bà thức cả đêm làm gì?"
"Thức thì vá."
"Ru có lời không mệ?"
"Có. Miệng mệ không có."
"Vậy ai có lời?"
Mệ không đáp. Mười ngón tay mệ đưa qua, đưa lại.
Kình hắng giọng. Nó ngân theo, hai tiếng thấp. Tiếng đầu nó lên chỗ phải xuống, tới tiếng sau thì đứt hơi giữa chừng.
Cộc trên vai bịt tai bằng bàn tay duy nhất.
"Mày phô hơn cả tao," Cộc nói.
Kình mặc kệ. Nó lấy hơi, ngân lại lần nữa. Lần này nó cố giữ tiếng sau cho dài, dài cho tới khi ngực nó rát.
Nó liếc lên gờ tháp.
Cây kim trên gờ vẫn chạy. Không dừng.
Kình ngậm miệng. Cộc bỏ tay khỏi tai.
"Thôi," Cộc nói. "Bả không nghe mày."
Mệ Vén chống tay đứng dậy. Mệ không nói gì về tiếng ngân của nó. Mệ xách cái giỏ tre, cái gậy, đi chậm về phía xóm, bóng mệ lẫn vào bóng tháp.
Kình ngồi lại một lúc. Rồi nó vác chèo đi dọc bãi về chòi nhà thuốc.
"Cha," nó nói khi đã xa am. "Cha thấy cây kim dừng không?"
"Thấy."
"Sao nó dừng?"
"Tao biết thì tao làm thần rồi."
"Cha làm thần thì cha làm thần gì?"
"Thần ăn vụng. Cả bãi này cúng cá nướng cho tao, khỏi cần sắc."
"Thần ăn vụng thì ai cúng. Người ta giấu cá hết."
"Thì tao đi tìm. Thần phải có việc làm."
Nó cười, đi tiếp. Tới chòi, thầy chưa về. Tờ giấy dài cả sải vẫn trải trên phản, năm chữ cho tối nay, chữ nào cũng khô.
Nó không đọc ngay. Nó ngồi xuống nền đất, cầm một que tre, vạch chữ ngư. Con cá, cái đầu, cái mình. Nó vạch tới nét cuối, cuối nét nó tự kéo ra một cái móc nhỏ, như nó vẫn viết.
Nó nhìn cái móc. Ngón tay nó đặt hờ lên đó, không xóa.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 46 →