Hai hòn gạch vỡ chặn hai đầu cuộn lệnh trên án thư, rêu xanh còn dính trên một mặt hòn, in một vệt ướt nhạt lên giấy. Dấu son Phòng Tế Tửu đỏ trầm ở cuối cuộn. Thạc đứng sau án, thầy Khiêm ngồi trên chiếu trải giữa gian đình Bàu Mặn, hai tay đặt trên đầu gối.
Mười bảy tháng Tư. Đình mát, tối, mùi hương cũ và mùi mực mới, cột gỗ lim đen bóng vì tay người sờ qua mấy đời. Sau lưng Thạc, trên hương án, hòm sắc Thành hoàng sơn son đứng im như một con vật được dặn đứng im.
Thạc đọc. Giọng ông đều, đọc số, không lên không xuống, như người đọc sổ thuế cho một cái chợ không có ai. Ông đọc tới "y quan tùy hành Đường Tôn Khiêm", đọc tới tháp cổ cửa sông Nộ, đọc tới "chính tay ký giải". Ở chỗ đó, ông ngừng nửa nhịp. Rồi ông đọc tiếp, tới hết lệnh, không ngắt thêm lần nào.
Ông đặt tờ lệnh xuống án.
"Lệnh không ghi vì sao phải là y quan."
"Lệnh không cần ghi."
Thạc nhìn thầy một lúc. Ông không hỏi nữa.
"Tôi xin hoãn trả lời tới rằm tháng Sáu," thầy nói. "Để tôi xem lại sắc cũ."
"Sắc cũ ở đâu mà y quan xem?"
"Ở chỗ tôi đã quên."
Thạc cầm bút, chấm mực, viết một dòng. Ông viết chậm, đọc to theo từng chữ. "Hạn kiểm kê là rằm tháng Sáu. Y quan xin tới hạn thì theo quy định tôi không phải ghi là hoãn."
"Học chính ghi sao thì ghi."
"Tôi ghi đúng quy định." Ông gác bút. "Còn một điều. Bản giao làng nếu còn thì giải nhanh. Hai làng nói đã đốt."
"Tôi nghe làng nói vậy."
"Làng nói." Thạc lặp lại, giọng bằng phẳng. "Tôi ghi là làng nói. Y quan thấy làng nói thật hay nói dối?"
"Tôi là thầy thuốc. Tôi không đoán lời, tôi bắt mạch."
"Mạch của làng thế nào?"
"Nhanh. Nhanh như người đang nhịn thở."
"Theo quy định, tôi không bắt mạch." Thạc chấm bút. "Tôi chỉ ghi."
Ông rút từ trong sổ một cây bút khác, bút lông mới, đưa ngang án về phía thầy, đầu bút hướng vào tay ông. "Y quan ký nhận đã nghe lệnh."
Thầy nhìn cây bút. Bàn tay ông đặt yên trên đầu gối, không nhúc nhích.
Thạc chờ một nhịp, hai nhịp. Rồi ông rút bút lại. "Không cần. Tôi ghi đã đọc cho y quan nghe."
"Cảm ơn Học chính."
"Không ai cảm ơn việc theo quy định." Thạc lật tờ danh sách, dùng đầu ngón tay chỉ vào dòng thứ bảy. "Trong đội hát có một người tôi biết mặt. Y quan cũng biết."
"Con bé hát Then."
"Theo quy định, tôi không báo cho ai."
"Tôi cũng không."
Hai người nhìn nhau qua án thư. Ngoài sân đình, một con gà mái kêu cục tác, tiếng cánh vỗ lẫn trong cát. Thạc gập sổ, và buổi đọc lệnh chấm dứt không có một lời nào về chữ ký.
Đêm ở kho lưới, ông ngồi chờ, đèn chưa tắt. Từ đêm mồng sáu ông đã dời cái hòm khỏi khung cửa sau. Khung cửa trống, nhìn ra bãi cát xám, ra mũi đất. Ông thấy đốm đèn dầu nhỏ ở chân lối đá, lên cao dần theo từng bậc, như mấy đêm nay. Rồi đốm đèn mất vào lòng tháp. Một lúc lâu, nó đi xuống.
Kình đẩy cửa kho, hai tay ôm cái ống tre, mái chèo vác vai, Cộc bám cổ áo.
"Con lấy cam thảo cho mai, thầy."
"Ngồi xuống."
"Dạ?"
"Học một chữ."
"Chữ gì hả thầy?"
"Con lên tháp mỗi đêm. Con sờ ra gì, nói ta nghe. Ta dạy con chữ đó."
Kình đứng sững, ống tre trên tay. "Thầy biết con lên tháp?"
"Ta thấy đèn."
"Dạ." Nó ngồi xuống chiếu, chậm, đặt ống tre bên chân. "Dưới nhát đục ngang trên tường, con sờ ra một chữ. Bên trái chữ đó có ba chấm. Ba cái chấm xếp dọc."
"Chữ thứ mấy?"
"Chữ thứ hai trong bốn chữ."
Ông kéo tấm ván, cầm bút lông, đặt tờ giấy bản lên ván.
Ông viết lên tờ giấy, nét đầu thật chậm, rồi nét hai, nét ba. Ba chấm xếp dọc bên trái. Bên phải là bộ chữ khác, phức tạp hơn. Ông đặt bút xuống.
"Chữ Lãng. Là sóng."
Kình cúi sát. "Con gì trong chữ này?"
"Không có con gì. Ba chấm là nước."
"Nước mà không có cá."
"Có nước thì rồi có cá."
"Rồi là bao giờ hả thầy?"
"Khi nước đủ sâu." Ông nhìn chữ. "Con chép lại đi."
"Sao hôm nay thầy dạy con chữ này?"
"Vì con hỏi."
"Con chưa hỏi."
"Con hỏi bằng ngón tay. Mấy đêm nay."
"Dạ." Nó cười, ngượng. "Thầy nghe được ngón tay con hả?"
"Ta nghe cái đèn của con." Ông đẩy tờ giấy sang. "Chép."
Kình cầm bút. Nó chép chữ ấy ba lần, nét đầu lệch, nét sau ngay. Ông nhìn nó chép, thấy lưng nó cong, đầu cúi sát tấm ván, lưỡi thò ra ở khóe miệng như hồi nó mười lăm, mới học chữ. Ông định nói. Ông đã mở miệng. Lời chưa ra thì Kình ngẩng lên, mắt nó nhìn tay ông, lâu hơn nó nhìn chữ.
"Thầy, thầy mệt hả thầy?"
"Không mệt."
"Thầy ngủ ít."
"Người già ngủ ít."
"Dạ." Nó đặt bút xuống. "Con về, thầy."
"Cân cam thảo đã. Ta cân cho con."
Kình ngồi chờ ở ngưỡng cửa. Ông mở hòm thuốc, lấy cái cân tiểu ly ra, đặt lên chõng, lấy một nhúm cam thảo từ cái túi giấy, bỏ vào đĩa đồng. Ông nhấc quả cân bằng hai ngón.
Quả cân rung. Leng keng, leng keng, trên đĩa đồng, không đứng yên. Ông nhìn nó rung. Rồi ông đưa tay trái ra, nắm lấy cổ tay phải, giữ chặt, giữ cho tới khi quả cân thôi kêu và đĩa đồng đứng yên, nghiêng một nhịp, rồi thẳng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 39 →