Mỡ cá nục xèo trên lá chuối, một tiếng ngắn, rồi lặng. Chị Mận đặt khúc cá nướng giữa mâm, cạnh chén mắm năm đồng, cạnh nồi cơm Kình nấu, đáy đã khê một lớp nâu. Bếp đất nhà anh Sỏ đỏ lửa, hơi nóng phả vào bốn vách tre, bóng người đổ lên vách to gấp đôi người thật.
Tối mồng sáu tháng Tư. Hai bàn tay chị Mận bọc lá chuối buộc dây, cầm đũa vụng về như cầm hai cọng củi.
Thầy tới như mọi tối, ngồi đầu bếp, lưng quay ra phía cửa sau. Ghẹ vừa ngồi xuống đã kể.
"Anh Kình rơi xuống biển bữa qua, má. Tui nhảy xuống, cái biển há miệng ra bằng cái đình!"
"Biển nó há miệng bằng cái nón," Kình nói.
"Bằng cái đình. Tui thấy rõ. Tui túm anh một cái, nó nhả ra cái ực."
"Ghẹ kể mỗi lần một to," chị Mận nói.
"Tại mỗi lần tui nhớ thêm."
"Tau nói rồi," anh Sỏ nói, tay xới cơm. "Mi chèo như người mất hồn."
"Dạ anh nói nhiều lần rồi."
"Nói nhiều lần mà mi nghe một lần thì tau nói thêm."
"Tay chị thế nào?" thầy hỏi, nhìn đôi tay bọc lá.
"Đỡ rồi, thầy. Hết rát."
"Mai thay lá một lần. Đừng để ướt."
"Chượp không ướt sao được thầy."
"Vậy thay hai lần."
"Thầy cứ như bắt chị bỏ nghề," anh Sỏ nói. "Tau chưa thấy ai bắt vợ tau làm ít lại."
"Không ai bắt," thầy nói. "Tôi chỉ nói tay chị cần nghỉ hai ngày."
"Tháng trước thầy cũng biểu rứa. Rồi chượp ai đảo?" chị Mận nói.
"Kình đảo."
"Em?" Kình sặc nước. "Chượp bắn vô mặt em hoài."
"Thì rửa mặt," Ghẹ nói, miệng nhai. "Ba lần nước biển."
Cả nhà cười. Thầy cũng cười, bằng mũi, rồi đặt chén xuống chiếu. Ông nhìn Kình, mắt ông không dò, mà vẫn thấy.
"Mấy bữa nay con đọc chữ gì mà mắt đỏ?"
"Con đọc lưới, thầy."
"Lưới có chữ?"
"Lưới có mắt."
"Mắt thì không phải chữ."
"Con đọc mắt như đọc chữ."
Thầy không hỏi nữa. Ông cầm đôi đũa tre.
Kình nhìn tay ông.
Thầy gắp một khúc cá. Khúc cá nhỏ, giòn da, hơi nhấc lên khỏi lá chuối. Đũa run một cái giữa chừng, một cái run rất ngắn, rất nhẹ, như con chuồn chuồn chạm mặt nước. Khúc cá rơi lại xuống lá.
Thầy gắp lại. Lần này được. Ông đưa cá vào chén, đặt đôi đũa xuống ngang chén, không nhìn ai.
Kình không rời mắt khỏi đôi đũa. Ngón cái và ngón trỏ của thầy kẹp đũa cao, cao gần tới đầu đũa, như người kẹp cán bút. Nó nhìn hai ngón ấy. Nó nhìn lâu.
Nó gắp khúc cá to nhất trên lá chuối, bỏ vào chén thầy.
"Con gắp cho ta làm gì?" thầy hỏi.
"Thầy gắp chậm. Ghẹ ăn hết."
"Ơ!" Ghẹ la lên, tay đang cầm đũa giơ trên không. "Tui đâu có ăn hết!"
"Hôm qua Ghẹ ăn hết phần cá thầy."
"Hôm qua tui đói."
"Hôm nay Ghẹ cũng đói."
"Tại anh gắp cho thầy rồi tui mới đói!"
Chị Mận cười, phải đưa mu bàn tay lên che miệng. Anh Sỏ lắc đầu, và gắp một khúc cá khác bỏ vào chén Ghẹ để thằng nhỏ thôi la. Thầy nhìn khúc cá trong chén mình, rồi nhìn Kình.
"Ăn đi," Kình nói. "Cá nguội mất ngon."
Thầy ăn. Chậm, từng miếng. Ông nhai kỹ, như ông vẫn nhai mọi thứ, như người đã quen nhai cho khỏi đau.
Ăn xong, thầy đặt đũa lên miệng chén, chắp hai tay chào chủ nhà. Ông đứng dậy, lưng cúi, tay chống đầu gối. Ở ngưỡng cửa, ông quay lại.
"Mai con qua bốc thuốc. Hòm thiếu cam thảo."
"Dạ."
"Nhớ cân đủ."
"Dạ, con cân bằng cái cân của thầy."
"Cân đúng thì tin cái cân." Thầy gật. "Chúc nhà yên giấc."
Ông đi. Bóng ông ra tới bãi, nhỏ dần, cái đèn lồng trên tay đung đưa.
Cộc trên vai Kình nhìn theo, rồi quay sang nhìn nó. Nó ghé miệng vào tai Kình, rất nhỏ.
"Mày nhìn tay ổng cả bữa."
"Tay thầy run."
"Tay ổng run từ hồi tao biết ổng."
Kình không đáp. Nó nhặt đôi đũa của mình, gắp một miếng cơm khê đưa vào miệng, nhai. Cơm cháy giòn, đắng nhẹ, quen vị. Nó nhai mãi, như nhai một thứ không chịu nát.
"Kình," chị Mận gọi. "Ăn thêm cá."
"Dạ, em no."
"No gì mà ăn có một chén."
"Em no vì mắm chị ngon."
"Mắm chị năm đồng," chị cười. "Khen vậy là lỗ cho chị rồi."
Khuya. Nó xách đèn dầu đi một mình, dưới trăng non, lên lối đá. Cộc trên vai im. Gió biển thổi rát bên má, mang mùi muối khô và rong ướt. Ở bậc thứ năm, chỗ gạch vỡ, nó bước dài qua, không cần nhìn.
"Cha, con sờ chút thôi," nó nói, khi đứng trước cửa tháp.
"Mỗi đêm mày sờ chút."
"Mới đêm đầu."
"Đêm đầu rồi tới đêm hai." Cộc rúc đầu vào cổ nó. "Tao ngồi ngoài này. Mày vô một mình."
"Cha không vô?"
"Tao ngửi thấy muối. Tao ghét muối."
Trong lòng tháp tối, nó đặt đèn xuống đất. Ngọn đèn nhỏ rọi lên một vệt vàng trên mặt tường đối cửa, run run theo hơi gió lọt vào từ khoảng trời trên đỉnh cụt, nơi chữ Nho nằm im và nhát đục xiên ngang qua chúng. Nó đưa bàn tay lên, áp xuống mặt gạch, ngay dưới vết đục.
Gạch lạnh, nhám, lổn nhổn như vỏ hàu. Phía ngoài, sóng vỗ chân mũi đất từng tiếng nặng, và trong lòng tháp, tiếng ấy dội lại nhỏ hơn, như tiếng của ai ngồi sát bên kia bức tường.
Dưới một chữ bị đục, ngón tay nó trượt qua mấy rãnh nông, và dừng lại. Ở bên trái chữ ấy, xếp dọc từ trên xuống, có ba cái chấm nhỏ. Ba cái chấm, ba vết lõm tròn, như ba giọt nước nhỏ xuống đá.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 36 →