Cây kim vá buồm xuyên qua tấm vải nâu, rít một tiếng, rồi ông tài Lừng kéo sợi chỉ ra dài bằng một sải tay.
Ghe bầu nằm giữa vũng cửa sông Cái, thân tròn như bụng cá, hai cột buồm cuốn lại buộc dây. Mạn nó cao hơn mui ghe mui lá cả một người đứng. Ngoài mạn buộc lủng lẳng một cái thúng chai đen, đáy còn dính cát. Trên boong có mùi cá khô, mùi dây thừng ướt, và khói của cái lò đất đang ngún.
Ông tài ngồi trên lái, vải buồm dồn lên đùi. Ghe mui lá cập sát, thầy Đức buộc dây vào cọc mạn. Ông tài không đứng dậy. Mắt ông híp lại vì gió, nhìn xuống.
"Cửa sông Nộ," thầy Đức nói. "Một người."
Ông tài không hỏi tên. Ông nhìn Kình từ chân lên tới tóc, rồi nhìn cái mái chèo trên vai nó.
"Mày biết nấu cơm không?"
"Dạ, biết."
"Nấu cho mười đứa không?"
"Dạ, chưa nấu cho mười đứa."
"Thì giờ học." Ông kéo thêm một mũi chỉ. "Một quan rưỡi. Đợi gió tốn gạo."
Thầy Đức ngửa cổ nhìn lên, hai tay buông, giọng đều như đọc sổ.
"Gạo cửa sông Cái hai tiền năm mươi đồng một đấu. Gạo bến ông ghé dưới nam ba tiền hai mươi."
"Ông biết giá bến tôi ghé?"
"Ông ghé ba bến. Mỗi bến nằm hai ngày chờ gió. Cho nó ăn đủ no suốt đường, tiền gạo chưa tới một tiền."
"Còn cước?"
"Ghe ông chạy xuống nam đằng nào cũng chạy. Thêm một người ngồi, ván không chìm thêm."
Ông tài nhổ bã trầu xuống nước. Bã trầu nổi đỏ một chỗ, xoay xoay, rồi trôi.
"Gió năm nay lên trễ."
"Trễ thì ông nằm bến thêm. Có người nấu cơm thì ông khỏi trả công cho người nấu."
"Thằng Gàu nấu."
"Nấu khê," thầy Đức nói. "Ông kể với tôi hồi nãy."
Kình quay đi chỗ khác. Ông tài nhìn thầy một lúc, rồi nhìn Kình, rồi lắc đầu.
"Một quan hai tiền. Nó nấu cơm."
"Một quan hai tiền, nó nấu cơm."
Thầy Đức mở túi áo. Thầy đếm một quan ra mạn ghe, mười tiền, xâu này buộc nút khác xâu kia, thầy xếp thẳng hàng như xếp đũa. Kình móc trong bọc ra xâu dây gai của cai Lược, đặt lên cạnh. Hai tiền, dây xỉn.
Thầy Đức nhìn hai tiền ấy.
"Để cậu khỏi nợ," thầy nói, rồi nhận.
Cộc trên vai Kình ghé sát, hơi thở khò khè trên cổ nó.
"Ổng lấy tiền mày rồi mà mày còn cám ơn ổng."
"Con có cám ơn đâu."
"Mặt mày cám ơn."
Chiều tối, thầy Đức nấu một nồi cháo trên ghe mui lá, buộc sát thân bầu. Kình ngồi trên mạn cao, chân thòng xuống, nhìn thầy ăn một mình. Cái muỗng gỗ của thầy gõ vào thành nồi đất, đều, mỗi muỗng một tiếng.
"Thầy ăn cháo trắng hả thầy?"
"Cháo có muối."
"Chú Gàu cho con hai con cá khô. Con thả xuống thầy một con."
"Tôi không nhận cá."
"Cá con xin, đâu phải mua."
"Ai xin cũng là xin." Thầy múc muỗng nữa. "Cậu giữ mà ăn. Trên biển cậu cần mỡ."
Kình rút tay lại. Con cá khô nằm trong lòng bàn tay nó, mặn, cứng, gói trong lá chuối héo. Cộc ngồi xổm trên vai, ngó xuống nồi cháo.
"Ổng ăn muối còn hơn mày ăn cá."
"Con biết."
"Mày biết mà mày vẫn ăn."
"Thầy bảo con ăn."
Sáng hôm sau, trời chưa sáng hẳn, ông tài đã cho nhổ neo. Gió bấc chưa lên hết, buồm còn rũ, nhưng ông nói đợi thì mất cả ngày. Hai bạn ghe gỡ dây cột buồm, chú Gàu vác cái gàu gỗ đi qua đi lại trên boong, miệng ngáp.
Ông tài chỉ cái bếp.
"Nồi gang dưới kia. Gạo trong lu. Nước ngọt mỗi bữa một gáo, không hơn."
"Dạ."
"Cơm khê thì tao nói sau."
"Dạ."
"Cơm chín trước khi buồm lên." Ông tài quay đi.
Thầy Đức đứng dưới ghe mui lá, hai tay nắm sào. Ghe thầy nhỏ, mui vá ba chỗ, đứng cạnh thân bầu thì như cái thúng cạnh cái nồi. Kình đứng trên mạn ghe bầu nhìn xuống, mái chèo vác vai, cán sờn, nút chỉ chàm quay vào trong.
Thầy hỏi, không ngước lên ngay.
"Cậu sợ biển không?"
"Con không sợ biển."
Hai ngón tay thầy gõ lên mạn ghe bầu. Hai cái. Cộc, cộc. Gỗ ướt nên tiếng nghe đục.
Thầy không nói gì. Thầy lôi sổ bìa chàm ra, lật, chấm bút, ghi một dòng, rồi đọc to như mọi lần.
"Hai mươi bảy tháng Giêng. Cửa sông Cái. Ghe bầu ông tài Lừng. Một quan hai tiền. Một người quen xuống."
Kình nghe hết. Nó chờ thầy gấp sổ.
"Ghi để có, con biết."
"Cậu biết thì tôi khỏi giảng."
"Thầy ăn gạo nhớ nấu cho chín."
"Tôi nấu chín từ nhỏ."
"Thầy ngủ trong ghe nhớ buộc dây hai đầu."
"Tôi buộc hai đầu từ hồi cậu chưa ra đời." Thầy gấp sổ, nhét vào ngực áo. "Thôi. Cậu ở trên đó đứng cho vững."
Ông tài trên lái hét "Kéo", hai bạn ghe dồn người vào dây. Buồm vải nâu vá lấp ló bung ra được một nửa rồi phập xuống. Dây neo bị rút lên, nước nhỏ giọt từ sợi thừng xuống mặt vũng thành từng vòng.
Cộc nói nhỏ, chỉ Kình nghe.
"Ổng lại bắt được mày."
Kình không cãi.
Thầy Đức rút cây sào khỏi cọc mạn ghe bầu, chống một cái, ghe mui lá lùi ra khỏi bóng thân bầu, đuôi quay sang bên kia. Ở đuôi, cái cọc chèo trống trơn. Mái chèo của ghe đang nằm trên vai Kình, cách thầy bốn thước nước.
Thầy đứng ở đuôi, chống sào, mũi ghe quay ngược dòng. Một sào. Hai sào. Ba sào. Cái lưng áo nâu ngắn lính khuân nhỏ dần, rồi doi cát xám che mất ghe, che mất cả cây sào.
Không một lần ngoảnh lại.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →