Bốn hòn gạch vỡ chặn bốn góc ba tờ dập trải trên chiếu. Gió luồn qua cửa đình, tờ giấy phập phồng, hòn gạch kêu cộc một tiếng rồi nằm yên. Mặt giấy đen kịt, chữ Nho trắng đứng thành hàng, và ngang qua giữa hàng là một vệt xiên trắng như nét gạch xóa trên sổ.
Thạc đứng bên mép chiếu, sổ kẹp nách. Thầy Khiêm ngồi đối diện, hai tay đặt trên gối.
"Bốn chữ dưới nhát đục," Thạc nói. "Y quan đọc giúp tôi để vào hồ sơ."
Ông Khiêm cúi xuống. Ông không đưa tay chạm giấy. Ông nhìn bốn chữ, và đọc, không chậm, không dò.
"Hòa Lãng Phu Nhân. Hai chữ trên là Đoan Thục."
Thạc ghi. Ngòi bút chạy một dòng, rồi dừng.
"Y quan đọc không cần dò."
Ông Khiêm không đáp. Thạc gạch một nét cuối dòng, rất đều.
"Theo quy định, hồ sơ phục sắc phải có người đối chiếu tại chỗ. Mai lính đưa y quan lên tháp."
"Tôi đi một mình."
"Y quan từng tới vùng này?"
"Tôi đi nhiều nơi."
"Tôi hỏi một nơi."
"Tôi già rồi, Học chính. Nơi nào cũng lẫn vào nhau."
"Theo quy định, lời y quan đọc là lời khai. Tôi ghi lời khai."
"Học chính ghi đi."
Thạc ngẩng lên. Hai người nhìn nhau qua ba tờ giấy đen. Ông Khiêm không nhìn đi chỗ khác. Thạc gật một cái, rất nhỏ, rồi gấp sổ.
Đêm ấy ông ở lại đình. Sáng sau, ông qua đò. Người chèo là một ông già Mũi Vá không hỏi gì, chỉ đẩy sào, mắt nhìn nước. Bãi cát xám, hàng thúng úp, mùi chượp. Ông đi qua bãi, qua mấy sào lưới phơi, tới chân mũi đất. Tới bậc đá đầu tiên.
Ông đặt chân lên.
Lối đá dốc, bậc nào cũng mòn lõm ở giữa, rêu bám hai mép. Gió biển thổi từ bên trái, mang theo mùi muối. Ông đi chậm, tay chống cây gậy tre, từng bậc một. Ở chân lối đá, cạnh bậc đầu, có cái am nhỏ cỡ chuồng gà, mái ngói âm dương rêu phủ. Trước am, một bà già nhỏ thó ngồi xổm vá lưới, mười ngón tay đi lại không ngừng.
"Ông thầy lên tháp làm chi?"
"Đối chiếu chữ cho Học chính."
"Ông thầy biết chữ?" Mệ không ngẩng. "Trên tường viết chi?"
Ông đứng lại. Gió lùa vào tay áo.
"Đoan Thục Hòa Lãng Phu Nhân," ông đọc.
Mệ cười, một tiếng khô, không ra hơi. "Cái tên đó không phải của Bà."
"Tôi nghe."
"Mà Phu nhân hay Bà thì lúc đói người ta vẫn khấn đúng một người." Kim tre luồn qua một mắt, vòng, thắt. "Ông thầy khấn thử chưa?"
"Tôi không khấn."
"Thì ông thầy chưa đói."
Ông im. Một con còng nhỏ bò ngang qua bãi cát dưới chân am, dừng, rồi chui vào khe đá.
"Mệ giữ am bao lâu rồi?"
"Từ hồi mệ còn đẻ được."
"Một mình?"
"Có làng. Ngày lẻ bên ni cúng cá khô. Ngày chẵn bên nớ cúng muối." Ngón tay mệ không ngừng. "Mệ ngồi coi hương không tắt."
"Mệ không có con cháu?"
"Có. Hai đứa đi biển, không về." Mệ nói như nói giá cá. "Ông thầy có con cháu không?"
"Không."
"Rứa thì ông thầy coi thằng vác chèo như con."
"Nó là học trò."
"Học trò hay con thì cũng ăn cơm ông thầy nấu." Mệ liếc ông một cái, ngón tay vẫn đi. "Con hay học trò, mệ không hỏi."
Ông chờ mệ nói thêm. Mệ không nói. Mệ ngân một câu, không lời, giọng thấp và khàn, hai tiếng thấp, tiếng sau kéo dài như hơi thở người ngủ. Rồi mệ cúi xuống lưới, và ông hiểu cuộc nói chuyện đã hết.
Ông đi tiếp.
Lòng tháp mát, tối, nồng mùi gạch ẩm và muối. Khoảng trời trên đỉnh cụt rọi xuống một cột sáng đứng, và ở cửa, ánh nắng hắt vào thành một vệt xiên trên mặt tường đối diện. Trong vệt sáng ấy, bốn chữ nằm trơ, và nhát đục xiên ngang qua đè lên chúng.
Ông đứng cách tường một bước. Không chạm.
Ông nghe tiếng đục. Không phải tiếng thật, mà tiếng ông đã giữ trong tai từ lâu, thình, thình, từng nhát một, gạch vỡ rơi lộp bộp trên nền. Đoàn làm sau khi ông ký. Chánh đoàn sai thợ đục, ông đứng ngoài cửa. Ông nhớ lúc đó có một cậu thư lại mười bảy tuổi ngồi xổm cạnh chánh đoàn, mài mực. Mài đều, từng vòng một, mắt không ngẩng lên. Mực đã đặc từ lâu, mà cậu ấy vẫn mài.
Ông không nghĩ tên cậu ấy thành lời.
Ông nhìn vệt xiên. Bụi gạch đỏ mịn còn dính ở mép vết đục, ba mươi sáu năm không ai quét. Tay ông buông thõng hai bên người, yên, không run. Ông đứng lâu, tới khi vệt nắng trên tường dịch một đốt ngón tay.
"Tôi đi chậm quá," ông nói với bức tường, giọng như nói với một người bệnh nằm trong gian trong, nói nhỏ để không làm người ấy giật mình.
Bức tường không đáp. Gió thổi qua cửa tháp, mang theo tiếng sóng.
Ông quay ra.
Xuống tới lưng dốc, ông thấy một người đi ngược lên, vác mái chèo, tay xách xâu cá, cổ áo có một cái bóng nhỏ bám. Kình dừng lại ở bậc thấp hơn ông hai bậc.
"Thầy lên tháp hả thầy?"
"Lên coi gạch."
"Gạch có gì hay hả thầy?"
"Gạch thì cũ." Ông nhìn xâu cá. "Con mang cá cho mệ?"
"Dạ."
Kình nhìn vạt áo ông. "Thầy dính bụi gạch đỏ. Để con phủi."
"Để vậy."
"Phủi sạch cho thầy khỏi..."
"Để vậy." Ông nói nhỏ hơn. Cộc trên vai nó nhìn ông. Ông thấy, và ông không nhìn lại.
Ông đi tiếp xuống, bước từng bậc, tiếng gậy tre gõ lóc cóc. Đằng sau, tiếng chân Kình trên đá dừng lại, không bước tiếp. Ông không ngoái đầu. Vạt áo chàm của ông quét qua từng bậc, dính bụi gạch đỏ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 30 →