Tờ phiếu giao việc nằm chéo trên bàn Khuê, dấu son Phòng Tế Tửu còn ẩm ở một góc, mùi chu sa thoảng lên như mùi máu loãng.
Ngày hai mươi tám tháng Hai. Cô đọc từng chữ, ngón tay không chạm giấy.
Phòng Tinh Giản chép khuôn tôn hiệu cho sắc đồng bộ phục hồi, tháp cổ cửa sông Nộ. Hai mươi bản. Giao khí cụ.
Dưới dòng ấy, nét chữ lớn hơn, đậm hơn, bốn chữ mẫu.
Hòa Lãng chi thần
Cô không có bản chép nào trong tay, và không cần. Sáu chữ cô đọc hôm trước nằm trong đầu cô, sát nhau, từng chữ một, đặt cạnh bốn chữ trên giấy. Hòa. Lãng. Hai chữ ở giữa sống sót. Bỏ Đoan Thục. Bỏ Phu Nhân. Thêm chi thần.
Sáu chữ còn bốn.
Thư lại già đang ăn khoai ở bàn bên. Cô quay sang.
"Thưa, vì sao bỏ hai chữ đầu ạ?"
"Hai chữ nào?"
"Thưa, Đoan Thục."
"Đoan Thục là nết." Ông bẻ củ khoai làm đôi, hơi bốc lên. "Sắc đồng bộ không chấm nết."
"Thưa, còn Phu Nhân?"
"Phu nhân thì phải là vợ của ai trong sổ. Thần thì không cần chồng."
Ông cười một mình vì câu ấy, tiếng cười khục khục trong cổ. Khuê không cười.
"Thưa, sắc mới có gỡ điều khoản tên cũ không ạ?"
"Sắc mới không nhắc tên cũ."
"Thưa, không nhắc thì tên cũ vẫn là húy?"
"Không nhắc thì không ai phải nghĩ."
"Thưa, người ta không nghĩ, chứ tên có đó."
Ông gõ củ khoai vào mép bàn. Cốc, cốc.
"Con chép bốn chữ. Đừng chép câu hỏi."
"Thưa, vâng."
"Hai mươi bản, con chép một bản hết bao lâu?"
"Thưa, một nén nhang."
"Hai mươi bản là hai mươi nén. Hết ngày."
"Thưa, con chép hết ngày."
"Ai đọc hai mươi bản ấy, con biết không?"
"Thưa, tổ khí cụ ạ?"
"Khí cụ không đọc. Khí cụ đóng." Ông ngáp. "Người đọc là người khác."
Cô mài mực. Thỏi mực đi trong nghiên từng vòng, chậm, và mùi mực mới thấm vào không khí ẩm của Phòng, mùi khói thông cháy dở, quen tới mức cô không còn ngửi ra. Nước mực sánh dần, đen dần, tới lúc phủ kín đáy nghiên không còn thấy đá. Cô đặt tờ giấy khuôn đầu tiên, khổ mới, vuông, mỏng hơn giấy thường. Cổ tay trái có sợi chỉ đỏ, cô vén ống tay áo lên cho khỏi cọ.
Chữ Hòa. Chữ Lãng, bên trái bộ thủy, ba chấm.
Cô chấm từng chấm, chậm. Chấm thứ nhất. Chấm thứ hai. Chấm thứ ba, hơi nghiêng, như mọi khi, như cô chưa từng chấm thẳng được, và ngòi bút rời giấy.
Chữ chi. Chữ thần.
Bản thứ nhất xong. Cô đặt sang bên, lấy tờ khác.
Hai mươi bản, mỗi bản bốn chữ. Đèn dầu cháy xuống hai lần, cô châm lại. Thư lại già ăn xong củ khoai, lau tay, đi ra ngoài, rồi quay vào, ngồi ngủ gật dưới cửa sổ, đầu ngả sang một bên, tiếng ngáy khẽ như ai kéo cưa rất xa. Nắng chuyển từ bàn cô sang vách, rồi tắt. Khuê chép. Cô soát lại cả hai mươi bản khi xong, từng nét, từng chấm, hai lần, bằng cách đưa đầu ngón trỏ lơ lửng trên giấy, không chạm. Không bản nào thiếu. Cổ tay cô mỏi, sợi chỉ đỏ hằn một vệt lên da.
Một Học quan Khoa Bút tới vào cuối giờ Thân. Ông mặc áo lam, tay đeo găng vải, đi vào mà không gõ cửa, đặt xuống bàn một cái hộp sơn đen. Ông nhìn hai mươi tờ khuôn xếp thành hàng phơi trên bàn hẹp.
"Của tổ khí cụ," ông nói. "Nhận khuôn."
Ông cầm từng tờ lên, soi qua một cái kính nhỏ gắn khung đồng, môi mấp máy đếm nét. Hai mươi tờ, hai mươi lần. Ngón tay đeo găng của ông lướt qua từng chấm của chữ Lãng.
"Đủ," ông nói. "Đẹp."
"Thưa, đa tạ."
"Không cần tạ. Chữ đẹp là việc của chữ."
"Thưa, tổ khí cụ cần khuôn đủ cho bao nhiêu sắc ạ?"
"Con hỏi nhiều."
"Thưa, con xin lỗi."
"Một ngôi tháp, hai mươi bản. Hai mươi bản để chọn một." Ông nâng cái kính, soi thêm một tờ. "Mười chín bản còn lại thì đốt."
"Thưa, đốt ạ?"
"Khuôn thừa thì để làm gì."
Ông xếp từng tờ vào hộp, lót giấy mỏng giữa. Khuê đứng nhìn.
"Thưa, con xin phép hỏi. Khuôn này đóng vào sắc ngày nào ạ?"
"Khi người ký cũ ký giải."
"Thưa, người ký cũ là ai ạ?"
Ông cất tờ cuối vào hộp, đậy nắp, đưa tay gài chốt đồng. Ông không nhìn cô.
"Hồ sơ ghi. Con không cần."
"Thưa, vâng."
Ông gật, bưng hộp lên, trao cho hai lính đứng đợi ở ngưỡng cửa. Hai lính khiêng hộp ra hành lang, bước đều, giày đạp xuống gạch tiếng nặng. Ông Học quan đi theo, găng vải trắng sau lưng.
Khuê đứng ở cửa Phòng nhìn theo. Hành lang tối, dài, bóng đèn dầu đung đưa. Hộp đen nhỏ dần giữa hai lính, nhỏ dần, rồi rẽ qua một khúc quanh.
Qua mấy lớp tường, tiếng chày nhà kín rơi xuống, thình. Thình. Đều.
Cô đếm.
Bốn. Năm. Sáu. Bảy.
Cô thôi đếm.
"Con đếm tới mấy?" thư lại già hỏi, mắt vẫn nhắm, đầu vẫn ngả.
"Thưa, bảy."
"Ta đếm tới mười hai."
"Thưa, ông nói ông ngủ."
"Ngủ thì tai thức. Tuổi già."
"Thưa, mười hai rồi sao ạ?"
"Rồi thôi. Con thôi đếm là phải."
Cô quay vào Phòng, ngồi xuống. Cô mở tráp bằng chiếc chìa đồng treo trên sợi chỉ đỏ. Trong tráp, góc sắc giả cháy, tờ thử con dấu, sổ mượn kho, biên bản đối chiếu, dòng Vàm Tre chép tay. Cô cầm phiếu giao việc, gấp đôi, nếp gấp thẳng, và đặt vào giữa tờ thử và sổ mượn kho.
Cô đóng nắp tráp, xoay chìa, cài chốt. Dấu son của Phòng Tế Tửu còn ẩm lúc cô gấp phiếu, và một vệt đỏ nhỏ đã dính lên mép tờ thử, rồi khô.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 19 →