Cái búa gỗ đóng xuống đầu cọc tre ba nhát, nhát thứ ba nghe đục, rồi tấm bảng đứng thẳng.
Hai cọc cắm trước am, tấm bảng gỗ đóng vào giữa, vôi trắng, mực đen còn bóng chưa khô. Sáng mười ba tháng Hai, ngày lẻ. Con cá khô Mũi Vá cúng sáng nay nằm trên lá bàng ngay chân cọc, và một người lính đã dùng mũi giáo gạt nó sang một bên cho bảng khỏi vướng. Con cá nằm nghiêng, đuôi cong, vảy muối trắng lấp lánh.
Mệ Vén đẩy vai Kình, mạnh hơn người ta tưởng ở một bà già.
"Con ngồi sau ni."
"Dạ?"
"Sau vách. Ngồi."
Kình ngồi xuống sau vách am, lưng áp vào gạch lạnh, đầu gối co lên ngực. Cộc nhảy xuống ngồi cạnh nó, tai dựng. Từ chỗ này nó thấy một khe hở bằng bàn tay giữa vách và cọc bảng, và qua khe ấy, mép chữ đen nhỏ nhất trên bảng, những dòng không đọc được từ xa.
Bãi cát đầy người. Dân Mũi Vá đứng một bên, dân Bàu Mặn đứng bên kia, giữa hai bên một khoảng cát trống. Thạc đứng trước tấm bảng, áo lam sẫm, tờ giấy trong hai tay. Hai lính sau lưng ông.
Ông đọc, giọng đều, từng chữ rõ như đếm đồng.
"Thần không sắc. Am không sắc. Cúng trong hạn kiểm kê thì không luận tội. Hết hạn, rằm tháng Sáu, ai cúng ngoài thể thức thì luận theo luật gọi chui."
Không ai nói. Gió thổi tấm lá bàng, con cá khô nhích thêm nửa gang.
"Rằm tháng Sáu," Kình thì thầm. "Còn bốn tháng."
"Mày đếm hay tao đếm?" Cộc thì thầm lại.
"Con đếm."
"Đếm đi. Tao nghe."
"Hồ sơ phục sắc lập xong trước rằm tháng Sáu thì am thành am có sắc. Am có sắc thì cúng đúng thể thức không phải luận tội. Hồ sơ chưa lập xong thì am là am gọi chui. Tôi nói đủ."
Một ông già Mũi Vá bước lên nửa bước, chống nạng.
"Am ni cúng bao đời không ai luận."
"Ba mươi sáu năm nay am không sắc," Thạc nói. "Giám để yên vì chưa tới kỳ kiểm kê. Nay tới kỳ."
"Ba mươi sáu năm không ai bảo là gọi chui."
"Theo quy định, không sắc từ ba mươi sáu năm thì đã là không sắc ba mươi sáu năm. Tôi không đặt ra quy định."
Ông Trùm Lạc bước ra. Hôm nay ông mặc áo dài đen sờn chỉ ở khuỷu, khăn đóng vấn ngay ngắn. Ông chắp tay, cúi một cái đúng độ.
"Bẩm Học chính, làng tôi xin có sắc. Cái gì cũng được."
Phía Mũi Vá có tiếng thì thầm. Ông Trùm không quay lại. Ông già chống nạng quay phắt sang ông, mặt đỏ, môi run.
"Lạc! Mi nói cái chi vậy? Làng mình có tội chi mà phải xin?"
"Chưa có tội," ông Trùm nói. "Xin để khỏi có."
"Xin cái gì cũng được, rứa là bán."
"Bán gì mà bán. Tôi xin cái giấy."
Ông già nhìn ông Trùm. Hai người đàn ông ngang tuổi nhau, một người khăn đóng, một người nạng gỗ, đứng cách nhau một sải tay mà như cách cả con sông. Ông Trùm nói nhỏ, mà cả bãi cát nghe rõ từng tiếng.
"Bà có tên hay không là chuyện của Bà. Làng có tội hay không là chuyện của tôi."
Ông già không đáp. Cái nạng run trong tay.
"Bàu Mặn xin có sắc," lý trưởng Bồi nói từ phía bên kia, giọng nhẹ hơn, tròn hơn. Ông chắp tay sau lưng rồi vội đưa ra trước. "Đình tôi có sắc, am cũng nên có sắc."
"Theo quy định, hai làng cùng ký nhận hồ sơ."
"Ký," ông Trùm nói.
"Ký," lý trưởng nói.
Thạc gật. Một lính trải ra một tờ giấy dài trên một cái thúng úp, đặt bút lên, đứng chờ. Mệ Vén ngồi xổm trước am, ngay cạnh bảng, không nói một lời, và mười ngón tay đưa nhanh hơn mọi ngày.
Kình áp tai vào gạch. Giữa hai làng, tiếng ký, tiếng bút lướt trên giấy. Có người ho. Có đứa trẻ khóc ở xa, bị bịt miệng.
Giọng Thạc lại vang lên, gần hơn.
"Ai giữ am?"
"Mệ," mệ Vén nói.
"Am có giấy gì không?"
"Giấy chi?"
"Giấy cũ. Giấy Giám giao làng."
"Mệ không biết chữ."
Tiếng bút. Thạc ghi. Nét bút ngắn, khô.
"Bà có người thân nào biết chữ không?"
"Không."
"Cảm ơn. Bà giữ am lâu chưa?"
"Lâu."
"Lâu là bao lâu?"
"Lâu như cái am."
"Tôi cần số năm."
"Mệ không đếm."
Thạc im một nhịp, rồi nói, không giận.
"Xin bà hiểu cho. Tôi chỉ ghi."
"Ghi đi."
Cộc nghiêng đầu, ghé sát tai Kình, nhỏ như tiếng muỗi.
"Bà già nói dối giỏi hơn mày."
"Sao cha biết bà nói dối?"
"Tay bà ngừng vá."
Kình nhìn qua khe hở giữa vách và cọc. Mệ Vén ngồi xổm, lưng gập, hai tay đặt trên đầu gối. Đúng. Hai bàn tay bà không đưa. Mười ngón nằm yên, thẳng, lần đầu từ hôm Kình tới.
"Từ lúc nào?"
"Từ lúc ổng hỏi giấy."
Kình không hỏi thêm.
Đám đông tan chậm. Lính cuốn tờ giấy ký. Thạc đứng thêm một lúc trước bảng, soát lại từng dòng như soát lại một món hàng, rồi quay đi. Hai làng tách ra, dân Mũi Vá xuống bãi, dân Bàu Mặn lên đò. Không ai nhìn ai. Ông già chống nạng đi chậm, lưng quay về phía ông Trùm, và ông Trùm đứng một mình giữa bãi, tay sờ thẻ tre trong ngực áo.
Mệ Vén vẫn ngồi đó, hai tay đã đưa lại. Một lính đi ngang, nhìn con cá khô nằm nghiêng bên chân bảng, nhìn bà, rồi đi tiếp. Bà nhặt con cá, đặt lên giữa lá bàng, đẩy cho nó thẳng.
Đoàn Giám lên đò. Mũi đò rời bờ. Trên bãi, đám người lớn tản ra theo từng nhóm.
Ghẹ lách qua giữa chúng, nhanh như con lươn. Nó ném lên mái chái lưới một bó đuốc rơm tẩm dầu rái, buộc sẵn dây gai, đuôi bó chạm mép lá kêu xoẹt. Rồi nó nhìn Kình qua khoảng sân, nháy mắt, và hất cằm lên phía mũi đất.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 12 →