Cái thẻ tre gõ lên vành thúng ba tiếng khô, rồi ông Trùm Lạc dùng móng tay gạch một vạch trên thẻ.
Ông ngồi trên một cái thúng úp giữa bãi, trước mặt là đống cá cơm mẻ chiều, bạc, ướt, còn quẫy. Chiều mồng 12. Từng người kéo lưới bước tới, mỗi người nhận một nắm đầy hai tay vào nón hay vào áo, ông Trùm nhìn mặt, nhìn tay, gạch một vạch. Áo ông nâu, râu cằm thưa muối tiêu, khăn đóng cũ vấn không ngay.
Tới lượt Kình, ông nhìn mái chèo trên vai nó trước. Rồi mới nhìn nó.
"Thằng vác mái chèo."
"Dạ."
"Kéo lưới ba bữa, bữa đầu kéo ngược. Nửa phần."
"Dạ, nửa phần."
Ông Trùm ngừng tay. Cái thẻ tre treo lơ lửng trên đống cá.
"Cậu không cãi?"
"Bữa đầu con kéo ngược thiệt."
Ông nhìn nó thêm một nhịp, rồi gạch nửa vạch, ngắn, nằm lệch. Ông bốc cá, đổ vào nón của Kình, nửa nắm, hơi đầy.
"Cậu ăn phần cá Mũi Vá thì làm như người Mũi Vá. Tui nói một lần."
"Dạ, con nghe."
"Cái chèo đó cậu nhận ở đâu?"
"Thầy con cho mượn."
"Thầy cho mượn thì giữ cho kỹ. Chèo là chân."
"Dạ."
"Nghe thì tốt. Đi đi."
Kình đi. Cá cơm trong nón nó vảy bạc, dính vào ngón tay, nặng mùi biển.
"Anh được nửa phần hả?" Ghẹ chạy theo, chân đạp cát. "Hồi bảy tuổi tui cũng nửa phần."
"Giờ Ghẹ mấy phần?"
"Hai. Tui kéo bằng hai người lớn."
"Ghẹ nói dóc."
"Hỏi ba tui."
Ghẹ chạy đi. Cộc ngồi trên vai nó, hai móng bấu cổ áo.
"Nửa phần," Cộc nói. "Tao ăn nửa của nửa."
"Cha ăn một phần của con rồi."
"Tao ăn phần ngày hôm qua. Hôm nay tao nhịn."
"Cha nhịn gì."
"Tao nhịn nói."
Chạng vạng, nó ngồi trước chái lưới, nướng cá bằng que tre. Một chiếc đò ngang trườn vào bến Mũi Vá, mũi đò chạm cát. Ông lão lái đò nhảy xuống, buộc dây vào cọc, đi thẳng về phía xóm, không ngoảnh lại.
Người ở lại trên đò là thầy Khiêm.
Thầy không xuống ngay. Thầy ngồi mũi đò, tay nải đặt trên đùi, nhìn lên bãi. Rồi thầy chống gậy, bước xuống cát, đi tới am. Mệ Vén ngồi sẵn ở bậc. Thầy rút từ tay nải một gói giấy bản buộc lạt, đặt vào tay bà, nói gì đó thật khẽ. Mệ gật. Thầy không ở lại.
Thầy quay ra bến đò. Ông lão lái đã khuất. Mặt trời đỏ lịm ngang mặt nước, bóng thầy kéo dài trên cát như một cái cọc đổ.
Kình đặt que cá xuống, đứng dậy, đi ra.
"Thuốc ho cho mệ," thầy nói, trước khi nó hỏi. "Như đã hứa."
"Dạ."
Thầy rút trong tay nải ra một xâu tiền. Xâu dài, dây gai buộc chắc.
"Ba quan. Đường cái quan ra bắc đi bộ một tháng. Đủ ăn cơm quán."
Kình không đưa tay.
"Con không về."
"Ta không hỏi con muốn gì."
"Thầy cũng không nói vì sao con phải về."
Thầy nhìn xâu tiền trong tay mình. Rồi thầy cất nó vào tay nải, kéo dây rút lại. Không nói thêm.
"Ba quan là nhiều," Cộc nói, từ vai Kình.
"Ông nói gì?" thầy hỏi.
"Tui nói ba quan ăn được hai tháng."
"Ông ăn ít. Ba quan ông ăn được cả năm."
"Ông dạy tui tính?"
"Ta tính giùm."
Kình cầm sào đò ngang dựng ở mạn. Nó đặt mái chèo của mình xuống đáy đò.
"Con đưa thầy qua."
"Con không cần."
"Lão lái về rồi. Thầy muốn ở đây tới sáng thì ở."
Thầy nhìn nó một lúc, rồi ngồi xuống mũi đò.
Kình đẩy đò ra khỏi cát. Nước lạnh, sông đã ngả xám. Giữa dòng nó bỏ sào, nhấc mái chèo của mình lên, đặt vào rãnh cọc, chống bằng mái chèo như chống sào, một nhịp, hai nhịp, kiểu người miệt dưới vẫn làm, tay trái giữ, tay phải đẩy. Đò đi thẳng.
Tiếng mái chèo khua lên mặt nước đen, từng nhịp, và trên cao cái tháp cụt nằm ngang trời tím, rễ si rủ xuống như một mớ tóc bết. Thầy không ngẩng nhìn nó. Thầy nhìn nước.
"Con chống kiểu gì vậy?"
"Kiểu miệt dưới."
"Ở đây người ta gọi con là gì?"
"Thằng vác mái chèo."
"Ở xóm thợ?"
"Thằng Mái Chèo. Rồi chú Mái Chèo."
Thầy cười một hơi nhỏ bằng mũi. Kình không thấy mặt thầy, chỉ nghe hơi thở ngắn đi ra.
"Chú."
"Dạ, chú. Mẹt còn gọi con vậy."
"Con thấy sao?"
"Con thấy mái chèo nặng."
"Con ngủ được không?"
"Ngủ được. Mùi chượp thấm vô tóc."
"Tóc con hôi?"
"Cha nói thúi."
"Tao nói tao ngửi thấy," Cộc nói. "Chớ tao không nói thúi."
"Ông ngửi thấy gì?"
"Mắm."
"Mắm thơm," Kình nói.
"Mắm thơm với người ăn. Với người ngửi thì thúi."
Nó buông một tay, móc trong bọc ra một gói lá chuối buộc dây gai, đưa cho thầy.
"Nửa phần cá cơm. Ông Trùm cho con hôm nay."
"Ta không lấy."
"Thầy nấu đi."
"Ta không biết nấu cá."
"Vậy bữa sau con nấu."
Thầy không nói được, mà cũng không nói không. Thầy cầm gói lá chuối, đặt lên đùi, che bằng một bàn tay.
Đò cập bờ nam, mũi đò chạm cát ướt. Kình không bước lên. Nó đứng ở đuôi đò, mái chèo trong cọc. Thầy chống gậy đứng dậy, bước xuống bờ. Thầy quay lại.
"Đừng lên tháp."
"Thầy lên chưa?"
Thầy không đáp. Thầy quay lưng, đi về phía đình, gậy gõ lên đất.
Kình đẩy đò ra khỏi bờ. Nó quay mũi về bên kia.
Trên bến đình Bàu Mặn, hai lính đang quét vôi trắng một tấm bảng gỗ dựng nghiêng vào cột cổng. Chổi vôi quét lên quét xuống, vôi chảy thành vệt dài. Thạc đứng cạnh, áo lam sẫm, cầm một tờ giấy soát từng dòng.
Kình chống mạnh một mái. Đò trượt ra giữa dòng, và nó đã khuất vào bóng chiều trước khi Thạc ngẩng lên.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 11 →