"Xem đi," Uẩn nói với Kình. Hắn vừa lật cuốn sổ thần từ của Bàu Mặn tới một trang, đặt lên mặt bàn gian chái đình, lấy hai thỏi mực chặn hai góc. "Giờ Ngọ hôm nay ở kinh kết sổ năm thứ hai."
Giấy dó từng ướt lũ đã khô quăn, cứng như bánh tráng phơi quá nắng, mép trang nào cũng loang một vệt nước nâu.
Kình cúi xuống. Khuê đứng bên kia bàn, hai tay buông.
Trên trang sổ, giữa mấy dòng chữ đều tăm tắp, có một dòng Kình đọc chậm được: am chân tháp, thần không sắc.
Không ai chạm vào cuốn sổ.
Ngoài sân đình, nắng trưa rọi thẳng xuống, bóng cột đình thu lại sát chân. Không có tiếng chuông nào. Không có ai đếm giờ. Uẩn đứng nhìn bóng cột.
Rồi trên trang giấy có một nét son hiện ra.
Nó bắt đầu từ đầu dòng "am chân tháp", chạy ngang, thẳng, đều từng sợi như dấu khí cụ, tới cuối chữ "sắc" thì dừng. Không ai cầm bút. Nét son đỏ, mảnh, nằm đè lên dòng chữ đen.
"Kết sổ năm thứ hai," Uẩn nói.
"Gạch rồi thì sổ không còn dòng nào cho Bà," Khuê nói.
"Bà có cần dòng không?" Kình hỏi.
Khuê nhìn nét son. Cô nhìn lâu.
"Không, huynh."
"Vậy gạch thì gạch."
"Gạch thì sổ tưởng đã xong việc với Bà."
"Sổ tưởng thì kệ sổ."
Uẩn ngẩng lên nhìn nó, rồi nhìn Khuê. Hắn không nói gì. Hắn gỡ hai thỏi mực, gấp sổ lại.
Kình bước ra hiên đình. Từ đây nhìn qua sông, Tháp Cụt đứng một mình trên mũi đất. Trên gờ cụt, cái bóng người vá lưới vẫn vá.
Khuê bước ra đứng cạnh nó, tráp ôm trước ngực.
"Sổ ở đình này gạch thì sổ ở kinh cũng gạch, huynh. Cùng một giờ."
"Không ai ngồi gạch hả muội?"
"Không ai. Khí cụ gạch."
"Cái máy biết Bà ở đâu không?"
"Không. Nó biết dòng ở đâu."
Kình nhìn cái bóng trên gờ tháp. Cái bóng không ngẩng lên.
"Bà không biết bị gạch."
"Bà không cần biết." Khuê siết tráp. "Muội cần biết. Muội chép thêm một dòng vào tráp."
"Muội chép gì?"
"Giờ Ngọ hai mươi ba tháng Chạp, sổ thần từ Bàu Mặn tự gạch. Không ai cầm bút."
"Muội ghi như thầy Đức."
"Muội học thầy Đức một chút." Cô nhìn xuống. "Ghi để có."
Chiều, Kình về Mũi Vá. Anh Sỏ ngồi trên bãi trét lại một cái thúng, nồi dầu rái sôi lục bục trên ba hòn đá. Anh không ngẩng lên, nói như kể chuyện con cá.
"Ghe ông tài Lừng ghé cửa sông Cái hồi tháng Mười. Người ghe ổng qua đây nói, muốn ngược thì chờ gió nồm. Tháng Chạp không ghe bầu nào ngược."
"Con đi bộ."
"Đi bộ ra tới đó thì mòn mấy đôi dép."
"Con có hai chân."
"Hai chân mà một đôi dép." Anh quệt chổi xơ dừa. "Chừng nào mi đi?"
"Sau Táo. Theo đoàn Giám, con đi sau."
"Tết mi ăn trên đường?"
"Dạ."
"Ăn Tết trên đường thì ăn cái chi?"
"Ăn cơm nắm."
Anh Sỏ dừng chổi. Anh nhìn nó một lúc.
"Tau biểu con Mận gói cho mi. Muối Bàu Mặn chấm cơm nắm, đi tới đâu cũng không thiu."
"Dạ."
Tối hai mươi ba, chị Mận bày một mâm cúng nhỏ trên bếp nhà anh Sỏ, đốt nén nhang, rồi bế thằng Ghẹ đã ngủ gục vào buồng. Anh Sỏ ra bãi coi thúng. Gian bếp còn mình Kình.
Nó ngồi trước bếp. Lửa củi đước cháy đỏ, than nổ lách tách. Mùi nhang lẫn mùi chượp từ thùng dưới chái bay vào.
Nó mở bọc vải nâu. Nó lấy ra ba thứ, đặt lên đầu gối. Tờ yết gấp tư, ô vuông son trống ở góc dưới. Tờ thử, con dấu khí cụ đỏ đều từng sợi. Chiếc lá bàng khô gói mẩu sắc cháy, nó mở lá ra: con cá bốn chấm.
Gió lùa qua vách, giấy lật. Nó rút cây thước gãy quấn dây gai ở thắt lưng, đặt ngang đè lên cả ba.
Nó nhìn ba thứ ấy.
Nó nhớ câu người đàn bà quấn vải đỏ nhắn lại lời bà Đa Bến hồi tháng Bảy: "giấy nào trói thì đốt giấy đó."
Nó nhấc thước ra. Nó cầm cả ba tờ trong tay, đưa tới gần miệng bếp.
Lửa liếm lên mép tờ thử. Mép giấy co lại, ngả màu.
Cộc trên vai nó không nói gì. Cộc mỏng tới nỗi ánh lửa rọi qua người Cộc, đỏ lên.
"Cha."
"Gì."
"Con muốn đốt hết."
"Đốt ba tờ đó?"
"Không. Hết." Giọng Kình không to. "Sổ ở đình. Sổ ở kinh. Cái máy. Hết."
Cộc không đùa. Cộc ngồi im trên vai nó, cái khúc tay cụt đặt lên cổ áo nó. Lâu.
"Đốt thì đốt cả cái sổ không có tên tao."
Kình rút tay lại.
Ba tờ giấy rời khỏi miệng bếp. Mép tờ thử đã sém một vệt nâu, cong lên như mép lá khô. Lửa không bắt vào được.
Nó nhìn vệt nâu ấy.
"Cha nói cái sổ nào?"
Cộc không trả lời.
"Cha có tên trong sổ nào hả cha?"
"Mày hỏi nhiều quá. Tao già rồi, tao quên."
"Cha không quên."
"Ừ. Tao không quên." Cộc dụi cằm vào cổ áo nó. "Để bữa khác."
Kình không hỏi nữa. Nó ngồi đó, ba tờ giấy trong tay, nhìn lửa.
Ngọn nhang trên mâm cúng của chị Mận cháy tới gần nửa, tàn nhang cong xuống, rơi.
Nó không đốt gì.
Nó gấp ba thứ lại thành một, tờ yết ngoài, tờ thử giữa, chiếc lá bàng gói mẩu cháy ở trong. Nó bỏ vào bọc vải nâu, đặt dưới con dấu sừng trắng mặt trống, buộc lại bằng hai nút chỉ đỏ, kéo chặt.
Rồi nó cầm que cời, đẩy cục than đang đỏ nhất ra xa khỏi miệng bếp, xa tay mình.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 104 →