Phoi gỗ trắng bật khỏi lưỡi đục từng vảy mỏng, cong, rơi đầy vạt áo Kình. Tấm ván thúng cũ đã bào mặt, kê ngang trên hai thùng chượp úp ở đầu bãi. Cái đục nhỏ của con Mẹt lưỡi đã mòn, nó phải gõ nhiều hơn mới đi được một nét.
Nó khắc ba chữ. Đường. Tôn. Khiêm.
Chữ thứ ba nó khắc chậm nhất. Cái miệng bên trái. Bàn tay cầm hai bó lúa bên phải. Nó khắc đúng như nét nó viết lại trên mâm cát sáng hôm hai mươi mốt.
Cộc trên vai nó nhìn xuống tấm ván.
"Chữ đó khắc được hả?"
"Khắc được."
"Không bị gạch?"
"Không. Con khắc thì nó đứng yên."
Chiều hai mươi sáu, có tiếng bánh xe nghiến trên đường đất đầu bãi. Mấy cỗ xe trâu đi qua, chở hòm sơn đen, lính đi hai bên. Hai Học quan Khoa Bút ngồi trên một cỗ, người béo ngủ gật.
Cỗ xe đi đầu dừng lại. Tế Tửu bước xuống. Ông đi bộ mấy bước, tới chỗ Kình ngồi, đứng nhìn tấm ván.
Kình không đứng dậy. Nó để cái đục trên đùi.
"Tên ông ấy khắc được thì ghi được," Tế Tửu nói. "Vì lẽ đó ta sẽ ghi."
"Ghi vô đâu?"
"Vào chỗ ông ấy tự viết."
"Thầy con viết ở đâu?"
"Ở cổng Giám. Con biết chỗ đó."
Kình biết. Nó không nói.
"Ông không bắt con?"
"Bắt thì phải ghi. Ta chưa biết ghi con vào dòng nào."
"Ông tìm được dòng thì ông bắt."
Tế Tửu nhìn nó, một nhịp. Ông không trả lời câu đó.
Khuê đứng gần đó, ôm tráp, cô sang từ sáng để giúp chị Mận. Tế Tửu quay sang cô.
"Con về theo đoàn Học chính Thạc. Tráp con mang theo."
"Dạ, thưa ông."
Ông quay về xe, lên xe. Cỗ xe nghiến bánh đi tiếp, lên đường cái quan, về phía bắc.
Khuê đứng nhìn theo một lúc, rồi cúi xuống nhìn tấm ván.
"Huynh khắc nét ngang đầu nông quá."
"Tui biết. Mai tui khắc thêm."
Sáng hai mươi bảy, đám tang ở bãi Mũi Vá. Không có lễ Giám, không có Học quan. Học chính Thạc đứng ở xa, chỗ mép đường đất, như ngày lễ kéo lưới đầu mùa, không lại gần, không bỏ đi.
Hai làng cùng khiêng. Bốn người Mũi Vá, bốn người Bàu Mặn ghé vai, lý trưởng Bồi ghé một vai vào phía sau. Ông Trùm Lạc đi trước. Đi chậm qua bãi cát, lên gò cát hướng ra cửa sông.
Mộ đắp trên gò, đầu quay ra cửa sông Nộ.
Người Bàu Mặn tới, mỗi người cầm một nắm muối, rắc lên mộ. Người Mũi Vá mỗi người cầm một cái nút lưới, đặt xuống. Không ai bảo ai.
Kình cắm tấm ván ở đầu mộ. Ba chữ quay ra phía bãi.
Mệ Vén đứng đầu mộ, chống cây kim đan. Mệ nói tên Bà một lần. Rõ, chậm.
Rồi mệ nói.
"Ông thầy đi."
Không ai nói thêm gì.
Lý trưởng Bồi đứng lại cạnh Kình khi người ta tản dần xuống gò. Ông nhìn tấm ván.
"Cậu khắc hả?"
"Dạ."
"Đình tôi có sắc ghi tên thần. Tên người thì chưa ai khắc cho ai."
"Thầy con đâu phải thần."
"Ừ. Thì vậy mới khắc được." Bồi chắp tay sau lưng. "Đêm đó tôi chở thầy qua sông. Tôi không hỏi thầy đi làm gì."
"Thầy có nói gì với ông không?"
"Thầy nói lý trưởng chờ thì thầy về. Tôi chờ tới sáng." Bồi nhìn ra cửa sông. "Thầy không về đò tôi. Thầy về nhà thuốc bằng chân."
Ông cúi đầu một cái trước tấm ván, rồi đi xuống.
Gần trưa, hai làng ngồi chung trên bãi. Mấy cái chiếu trải trên cát, nồi cơm đặt giữa. Chị Mận múc mắm ra từng chén cho người Bàu Mặn. Người Bàu Mặn rắc muối lên cá nướng của Mũi Vá.
"Muối bên tui mặn hơn," một bà cào muối nói.
"Mắm bên tui mặn hơn," chị Mận nói.
"Rứa thì ăn chung cho đỡ mặn."
Mấy người cười.
Thằng Ghẹ dẫn một đám con nít Bàu Mặn ra chỗ mấy cái thúng úp, dạy tụi nó đứng lên thúng gọi tên Bà ra cửa sông. Đứa nhỏ nhất bị ngã khỏi thúng, đứng dậy phủi cát, leo lên lại.
Piên ngồi trên một cái thúng khác, hát một câu Then. Tụi nhỏ nghe, hò đáp lại bằng câu hò kéo lưới. Sai nhịp. Sai hết. Mà tụi nó vui, Piên cũng cười.
Khuê ngồi cạnh chị Mận. Cô kể, giọng thư lại, chậm.
"Ở Thăng Long, hôm thầy đi, thầy nói: thuốc cho ta, cái cân cho người."
Chị Mận nghe, gật, không nói gì.
Kình đứng dậy, đi vào nhà thuốc. Nó trở ra, cầm cái cân tiểu ly của thầy. Đĩa đồng, quả cân, cán gỗ đen bóng tay cầm. Nó đặt vào tay chị Mận.
"Chị giữ."
"Chị đâu biết cân thuốc."
"Chị cân mắm."
"Mắm cân bằng chén. Ai cân bằng cái này."
"Thì chị cân cho đúng."
Chị Mận nhìn cái cân lâu. Rồi chị cười, ôm cái cân vào lòng, như ôm một đứa nhỏ.
Chiều, Kình ra mép nước như mọi bữa. Nó nắm mép thúng anh Sỏ, định đẩy ra.
Anh Sỏ giữ mép thúng lại.
"Mi có tang. Mấy bữa ni mi đừng lên ghe."
"Con đâu phải con ruột thầy."
"Mi bốc thuốc cho ổng. Rứa là có tang."
"Con không lên. Con đẩy thôi."
"Đẩy cũng đừng. Để tau đẩy." Anh Sỏ quay đi, kéo thúng xuống nước một mình. "Mi lên bờ vá lưới cho tau. Lưới rách nhiều lắm."
Kình đứng ở mép nước nhìn anh Sỏ đẩy thúng ra. Ghẹ ngồi trong thúng, lần này vẫy, nó vẫy lại.
Tối, Kình ngồi trên gò mộ. Ngọn đèn dầu đặt trên cát cạnh tấm ván. Nó đưa ngón tay lần ba chữ khắc. Đường. Tôn. Khiêm.
Nét ngang đầu chữ Khiêm còn nông. Ngón tay nó lướt qua mà gần như không vấp.
Nó rút đục ra khỏi bọc. Nó khắc sâu thêm nét ấy, gõ nhẹ, từng chút, cho tới khi ngọn đèn đặt trên cát cạn dầu, ngọn lửa nhỏ dần rồi tắt.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 102 →