1907 · Don Khon.
Con tàu nằm trên bờ bến trên từ ba tuần nay, thân vỏ đã ráp lại, nồi hơi đã đặt vào bụng, hai bánh guồng đã gắn vào hai bên sườn, một con cá to bằng cả cái nhà phơi nắng trên những thanh gỗ tròn xếp từ lưng bờ xuống mép nước, và hôm nay, vào buổi nước thấp nhất của mùa khô, người ta đến để thả nó xuống sông.
Nhì đứng ngập tới thắt lưng, giữa hàng phu.
Nước sông ở đó đục, chảy chậm, dưới chân anh là bùn mềm đã nuốt nhiều chiếc dép của nhiều mùa. Mười hai người đứng thành hàng dọc mép bờ, mỗi người cầm một đầu dây gai to bằng cổ tay, dây buộc vào mũi tàu, quấn qua mấy cột gỗ đóng sâu xuống đất, và việc của họ không phải kéo mà là giữ cho con tàu trượt từ từ, đừng lao, đừng nghiêng, đừng đâm vào đá.
Dây gai ở cổ tay trái anh đã sờn từ tuần trước. Anh định thay mà chưa kịp.
"Nước lạnh hơn hôm qua," Cả nói, đứng bên trái anh.
"Hôm qua mày đâu có xuống."
"Thì tao đoán."
"Đoán dở."
"Dở thì dở, mày giữ dây cho chắc."
"Con tàu này nặng bằng mấy đứa mình?" Út Lì hỏi.
"Hơn mười hai."
"Hơn bao nhiêu?"
"Mày hỏi ông kỹ sư."
"Tao giữ," Nhì nói.
"Thả!" ông cai hô, từ trên bờ, thanh tre giơ cao.
"Chưa," ông kỹ sư người Tây nói.
Ông đứng cạnh thầy ký Phụng, hai tay chắp sau lưng, nói thêm một câu bằng tiếng của ông, và thầy Phụng nghiêng đầu nghe rồi hô lên cho đám phu:
"Ông bảo chưa thả! Ông bảo giữ!"
"Giữ!" ông cai hô.
"Giữ!" Cả hô lại.
"Giữ chắc nghe!" Út Lì hô theo, giọng the thé.
"Mày hô nhỏ thôi," Cả nói.
Nhì siết dây. Gân tay anh nổi lên, nước chảy ngang thắt lưng anh, xoáy thành những vòng tròn nhỏ quanh hông.
"Dây trái lỏng!" ai đó kêu.
"Dây trái ai giữ?"
"Út Lì!"
"Con giữ!" Út Lì kêu, giọng vỡ. "Con giữ rồi!"
"Giữ cho chắc!"
Ông kỹ sư nói thêm một câu. Thầy Phụng gật, quay lại.
"Ông bảo thả chậm! Thả từng nửa bước! Ai thấy dây lỏng thì hô lên ngay, đừng im! Hô theo tiếng ông cai!"
"Thả nửa bước!" ông cai hô.
Con tàu rùng mình. Nó kêu một tiếng ken két từ bụng, rồi trượt, chậm, từng gang một, và dây gai trong tay mười hai người căng ra, rít trên những cái cột gỗ, thả một đoạn, rồi căng lại.
"Nửa bước nữa!"
"Nửa bước!"
"Nhì, mày giữ được không?" Cả hỏi.
"Giữ."
"Mặt mày tái."
"Nước lạnh."
"Dây mày kêu."
"Kệ nó."
Nhì nghiến răng. Vai trái anh, cái vai chai lệch bốn năm kéo toa, nhận cả sức dây, và anh giữ, cổ tay trái xoắn vào dây, sợi gai sờn của vòng cọ vào thớ gai to, từng sợi một đứt khẽ.
"Nửa bước nữa!"
"Hự!"
"Còn một bước!"
Con tàu chạm nước. Mũi nó nghiêng xuống, và nước dâng quanh nó thành một vòng sóng lan ra khắp mặt sông, đập vào hông Nhì, dềnh lên ngực anh, lạnh, rồi hạ xuống.
"Thả dây thứ nhất!" ông cai gào. "Dây thứ nhất quăng lên bờ!"
"Quăng!"
Nhì nhấc tay. Anh nhấc dây khỏi vai, quăng nó lên bờ bằng cả hai tay, và cánh tay trái vung ra, nghiêng, đón gió, và trong cái chớp mắt ấy, khi dây gai tuột qua lòng bàn tay, sợi gai cũ ở cổ tay, mòn nhất, đứt.
Cái vòng trượt khỏi cổ tay.
Nó trượt qua bàn tay, nhẹ như không, một cái sáng nhỏ xoay một vòng trong không khí, hắt lên một vệt nắng, và anh nhìn cả quãng đường ngắn ngủi của nó, từ cổ tay anh đến mặt nước, ngắn hơn một chuyến toa, ngắn hơn một nhịp hô.
Một cái sáng rơi xuống nước gần mũi tàu.
Mặt nước nhận lấy nó, nổi một vòng gợn nhỏ, rồi hai vòng, ba vòng, rộng ra, nhạt dần, và khép lại.
Nhì đứng yên.
"Quăng dây thứ hai!" ông cai hô.
Anh không nghe.
"Nhì! Dây thứ hai!"
Anh nhìn mặt nước, nâu, đục, lẫn bóng con tàu và bóng mây. Nước chảy ngang thắt lưng anh, rất chậm.
"Nhì!"
"Dạ," anh nói.
"Mày điếc hả? Quăng dây!"
"Dạ, ông."
"Mày đứng đó làm gì?"
"Dạ."
Anh quăng.
Con tàu nổi hẳn lên mặt nước. Nó lắc nhẹ một cái, khói đen nhả ra từ ống khói nhỏ, và trên bờ bọn phu la lên, ông kỹ sư người Tây giơ mũ lên, nói một câu mà thầy Phụng không cần dịch cũng ai nấy hiểu.
"Tàu này là tàu thứ mấy?" Út Lì hỏi, ướt từ đầu tới chân.
"Thứ sáu," Cả nói. "Mày kéo từ cái hai."
"Mình chở nó từng mảnh. Giờ mình thả nó xuống."
"Mai mình chở cái khác."
"Mày đếm nhiều quá."
"Nhì đếm. Tao nhại."
"Tao đâu có đếm," Nhì nói.
"Môi mày động."
Cả quay sang. Anh nhìn cổ tay Nhì, trần, trắng một vòng. "Vòng mày đâu?"
"Đứt dây."
"Rơi hả?"
"Rơi."
"Mày lặn đi."
"Mũi tàu đè ở đó."
"Mai tàu nhổ neo thì lặn, bạc mà."
"Để đó."
Cuối ngày, thầy Phụng đọc sổ dưới bóng cây sung.
"Nhì."
"Dạ, thầy."
"Tháng này ba trăm hai mươi chuyến."
"Ba trăm hai mươi."
"Ba trăm hai mươi. Mày kéo nhiều nhất đội." Thầy ngẩng đầu, đôi mắt nâu đục sau cặp kính gọng đồng nhìn cổ tay trái anh, trần, trắng một vòng.
"Dạ."
"Nó đâu rồi?"
"Xuống sông."
Thầy Phụng không hỏi thêm. Ông đóng sổ, cắm cây bút lông vào ống, đứng dậy.
"Mày ăn cơm không?" Cả hỏi, đứng ở rìa bóng cây.
"Chút nữa."
"Tao chờ."
"Đừng chờ."
Chiều đã xuống. Nhì đi một mình ra bến trên, cởi dép, đứng ở mép bờ, nơi đất xốp và ướt bị chân mười hai người giẫm nát. Con tàu đã neo ở giữa dòng, nhỏ dần trong nắng nghiêng, khói còn thoảng một sợi, và mặt sông phía trước anh rộng, nâu, chảy chậm, mang trên lưng những vệt sáng đỏ của buổi chiều.
Anh nhìn chỗ cái sáng đã rơi. Mặt nước ở đó đã phẳng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 10 →