1903 đến 1907 · Don Khon.

Nước lên vào ngày thứ hai Tám Oanh nằm, không báo trước, không có sấm, chỉ là một buổi sáng con suối sau lán không còn chảy qua khe đá mà tràn qua nó, đục, đỏ, mang theo lá và cành, và đến trưa bãi đất trũng ngoài rìa lán đã thành một vũng nước nâu mà gà đồn phải kêu inh ỏi dắt nhau lên chỗ cao, và đến chiều người ta nghe tiếng thác ở xa dâng lên nhiều tầng, từ tiếng rì rầm của cả tháng khô thành một tiếng gầm trầm đều, không dứt, như thể cả con sông cùng đứng dậy.

Nhì kéo phần chuyến của hai người.

Nước ngập đoạn ray thấp, máy hơi không xuống được bến, toa nào cũng phải kéo tay từ chân bến lên tới chỗ máy đứng chờ. Ông cai bảo không ai nhờ, anh tự nhận. Anh khoác dây kéo vào cái vai trái chai lệch, kéo bên đầu hàng, nơi chỗ của Tám Oanh bỏ trống, và Cả bước lên đứng sau lưng anh, Út Lì đứng sau Cả, và sáu người thành năm người, rồi năm người kéo toa nặng hơn sáu người kéo, và mỗi nhịp hô thiếu mất một giọng, và anh hô thay bằng giọng khàn, cố cho nó giống giọng của kẻ nằm trên sạp.

Anh hô "Một", bốn giọng đáp "Hự". Anh hô "Hai", bốn giọng đáp "Hự".

"Mày hô giống nó," Cả nói sau lưng anh.

"Giống không?"

"Giống. Tao nổi da gà."

Ngày thứ nhất anh kéo mười chuyến. Ngày thứ hai anh kéo mười hai. Ngày thứ ba, đường ray ướt, bánh toa trượt.

"Mày nghỉ đi," ông cai nói. "Mày kéo cho hai người rồi."

"Không nghỉ."

"Mày chết thì ai kéo?"

"Chưa chết."

Ông cai gõ thanh tre vào cột, và anh kéo mười chuyến, chuyến nào cũng đếm.

Tối, anh về, ngồi cạnh sạp Tám Oanh, đặt tay lên trán nó. Trán nóng như cục than còn đỏ ở đáy bếp.

"Nước," Tám Oanh nói.

Anh đưa gáo. Nó uống, nước chảy ra khóe miệng, và nó thở, rất nhanh, rất nông.

"Mày đi hỏi hả?"

"Hỏi rồi."

"Ai nói gì không?"

"Không."

Nó bảo thì thôi, rồi dặn muối còn thừa để lại cho Út Lì, rồi nhắm mắt. Ngoài lán, tiếng thác gầm đều.

Ngày thứ tư, khi Nhì thức dậy, trời còn tối, mưa rơi lộp độp trên mái lá, anh đưa tay sang sạp bên cạnh, và nó lạnh.

Họ chôn Tám Oanh ở mô đất cao sau lán, nơi nước lũ chưa tới, giữa hai gốc cây sung, trong một cái hòm do Cả và Út Lì đóng bằng những tấm ván lót sạp. Ông cai cho nghỉ nửa ngày. Thầy ký Phụng đến đứng cuối hàng, mặc áo dài thâm, ghi vào sổ một chữ nhỏ ở cột bên phải, rồi lặng lẽ đi.

"Có ai đọc cái gì không?" Út Lì hỏi, khi đất chưa lấp.

"Tụi mình có ai biết đọc," Cả nói.

Đất được lấp.

"Bây giờ đội còn năm," Cả nói.

"Chưa," ông cai nói. "Người mới tuần sau."

"Người mới không phải Tám Oanh."

"Tao không nói là Tám Oanh."

Nhì cầm cái xẻng, đắp thêm một xẻng lên mô đất. Rồi một xẻng nữa. Anh đắp cho đến khi nó đầy, tròn, có hình một cái bụng, và nước mưa chảy thành những vệt nhỏ xuống sườn.

Nước lên suốt tháng sáu, tháng bảy, tới tháng chín mới đứng. Đường ray ngập từng đoạn, ngập cả cột mốc thứ hai, và ông cai bảo nghỉ hai tuần. Anh dùng hai tuần ấy để ngồi trên sạp đếm lại số chuyến đã kéo kể từ ngày nhặt được cái vòng, và hết hai tuần số ấy lên đến một nghìn không trăm sáu mươi hai.

Rồi nước rút dần qua tháng mười, tháng mười một, và mùa khô tới.

Anh kéo nó bằng chuyến. Mùa khô đầu tiên một nghìn tám trăm bốn mươi chuyến. Mùa lũ thứ hai, bảy trăm sáu mươi, vì nước dâng ngập đường ray gần hai tháng. Mùa khô thứ hai, một nghìn chín trăm mười. Anh nhớ từng số, như nhớ tên người. Tháng nào ông cai gõ thanh tre ba lần, tháng nào gõ hai lần. Tháng nào ông kỹ sư người Tây đứng nhìn từ bờ, tháng nào ông không đến.

Những ngày nghỉ, hai tháng một ngày, rồi hai tuần một ngày khi ông cai nới tay, anh mang đi hỏi. Anh qua sông, anh đi chợ, anh ngồi ở bến cá, đưa cổ tay ra. Anh hỏi một người đàn ông Hoa đi buôn tơ, ông bảo "không phải hàng của tôi"; hỏi một ông thầy cúng đi ngang, ông bảo "không phải bùa"; hỏi một người lính Lào làm công cho đồn, anh bảo "tôi chưa thấy bao giờ" bằng tiếng Việt vụng; hỏi một bà sãi già ở ngôi chùa nhỏ. Anh hỏi đứa nhỏ biết tiếng Việt lúc nó đã lớn hơn, cao hơn, không còn là đứa nhỏ nữa. Mỗi lần anh đưa cổ tay, họ nhìn, họ chạm, họ lật, họ lắc đầu. Mười bốn người. Mười bốn lần lắc đầu. Anh không kể với ai, anh chỉ đếm, và số mười bốn nằm trong anh nhẹ hơn số chuyến, vì nó nhỏ.

Cuối mùa khô thứ hai, thầy ký Phụng gọi anh lên bàn, đọc sổ, và nói nợ ứng của anh đã hết, anh làm đủ ba năm theo giao kèo, tháng sau anh về quê được.

"Thầy ghi cho tôi ký thêm một năm," Nhì nói.

Thầy Phụng nhìn anh, ngón tay giữ cây bút lông không nhúc nhích.

"Quê mày có ai chờ không?"

"Không biết."

"Mày muốn ở thật không?"

"Muốn."

Thầy ghi, không hỏi thêm.

Một năm thành hai, hai năm thành bốn. Dây gai trên cổ tay anh mòn, anh thay một sợi mới tước từ đoạn dây kéo cũ, vặn lại bằng móng tay, và hai năm sau anh thay một sợi nữa. Cái vòng ở dưới sợi gai vẫn y như lúc nhặt, mỏng, thâm, ba hình khắc chìm không phai, và mặt trong xỉn một vệt nâu mà anh không chùi. Anh không hỏi nữa. Không còn ai để hỏi trong tầm đi bộ của một ngày nghỉ. Anh chỉ đeo.

"Cái vòng mày đeo, nó có kéo giùm mày cái nào không?" Cả hỏi một tối.

"Không."

"Vậy đeo làm chi?"

"Đeo cho vui."

Cả nhìn cái cổ tay ấy, bốn năm rồi, và không hỏi thêm.

"Mày ra đó hoài hả?" Út Lì hỏi một chiều.

"Chiều thì ra."

"Để làm gì?"

"Không làm gì."

Mô đất sau lán xẹp dần qua bốn mùa lũ, rồi cỏ mọc lên, xanh, nhỏ, và trong mùa khô thứ tư, khi anh đứng đó một buổi chiều, anh không còn tìm được chỗ nào trên mặt cỏ để phân biệt nó với đất xung quanh.

Hết Chương 8
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 9 →
← TrướcTiếp →