1903 · Don Khon.
Ngày lĩnh công là ngày duy nhất trong tháng mà thầy ký Phụng ngồi giữa sân thay vì ở góc lán, bày cái bàn gỗ thấp ra dưới gốc cây sung, kê hai cục đá cho vững, đặt lên bàn cuốn sổ lớn, nghiên mực, bút lông, cái cân tiểu ly và một cái hòm sắt mà ông cai khóa bằng chìa đeo trên cổ, và đám phu xếp thành một hàng dài, người nọ sau lưng người kia, từ gốc cây ra tới hàng rào, mỗi người cầm trong tay cái thẻ tre khắc số mà ông cai phát từ hồi đầu tháng.
Nhì đứng sau cùng. Anh cố ý đứng sau cùng, vì anh muốn khi hàng hết thì sân vắng.
Buổi sáng nóng ran. Nắng rọi xuống những cái lưng trần, những cái vai lệch, những cái cổ đen, và cả hàng người đứng im như hàng cọc, chỉ nhích khi người đầu hàng nhận xong. Thầy Phụng đọc số chuyến của từng người, ngón tay chấm vào cột, ghi một con số, trừ một con số, đọc số còn lại, và tiền được đếm ra từng đồng bạc nhỏ, từng đồng xu lẻ, bỏ vào lòng bàn tay người nhận, và người nhận cúi đầu, ký tên bằng cách điểm một ngón tay dính mực vào chỗ thầy chỉ.
"Cả."
"Dạ."
"Ba trăm mười chuyến, trừ ứng, trừ muối. Cầm."
"Dạ."
"Út Lì."
"Dạ."
"Hai trăm chín mươi tám."
"Sao ít vậy thầy? Tháng trước hơn."
"Tháng này mày nghỉ hai ngày vì cái chân."
"Cái chân con có bệnh."
"Bệnh thì ghi sổ bệnh, sổ bệnh trừ vào sổ công."
Út Lì cầm tiền, miệng méo, quay đi. Tám Oanh, rồi hai ông kia, rồi thêm bốn người ở đội bến, lần lượt lên bàn, lần lượt xuống. Tới khi hàng chỉ còn lại Nhì, bóng cây sung đã xoay khỏi bàn thầy ký, và thầy phải dời cái ghế đẩu sang trái một gang để không ngồi giữa nắng.
"Nhì."
"Dạ, thầy."
"Ba trăm lẻ hai chuyến. Chuyến thứ mười một hôm tàu thứ hai bị trật bánh tính một chuyến rưỡi, thầy ghi." Thầy ngẩng lên. "Còn nợ, còn nợ. Cầm."
Tiền rơi vào lòng bàn tay anh, và anh bỏ nó vào ống tay áo mà không đếm.
"Xong chưa?" Cả hỏi từ gốc cây, giọng uể oải, vì anh còn đứng đó, chờ Út Lì và Tám Oanh đi giặt.
"Chưa."
"Chưa gì?"
"Chờ tí."
Thầy Phụng đóng cuốn sổ, cắm cây bút vào ống tre, nhìn anh.
"Mày còn muốn gì?"
Nhì thò tay vào khố.
Anh đã tháo dây gai từ sáng, cất vòng vào khố, và bây giờ anh rút nó ra, đặt lên mặt bàn gỗ, giữa nghiên mực và cái cân, và nó nằm đó dưới nắng xuyên qua tán sung, thâm, mỏng, ba hình khắc nổi lên rõ rệt vì nắng rọi xiên.
"Thầy coi giùm tôi, chữ này là chữ gì."
Thầy Phụng không đưa tay ngay. Ông nhìn cái vòng, rồi nhìn Nhì, rồi nhìn lại cái vòng, và gương mặt vốn ít đổi của ông động đậy chút xíu ở khóe miệng.
"Mày lấy đâu ra?"
"Thầy coi chữ trước."
"Tao hỏi mày lấy đâu ra."
"Thầy coi chữ trước, tôi nói sau."
Thầy Phụng thở ra một hơi, nhấc cặp kính gọng đồng khỏi sống mũi, lau vào vạt áo, đeo lại, và lúc ấy ông mới đưa hai ngón tay ra, nhấc cái vòng lên. Ông không cầm cổ tay Nhì như Nhì tưởng. Ông cầm cái vòng, xoay nó trước mặt, gần sát, rồi gần hơn nữa cho đến khi sống mũi ông chạm vào bạc.
"Chữ này..." ông nói, và dừng.
Ông đọc thử. Lần thứ nhất ông đọc theo cách người ta đọc chữ nho, ngắt từng chữ một, giọng thấp, đều. Lần thứ hai ông đổi, đọc theo vần quốc ngữ, đánh vần từng nét. Lần thứ ba ông lẩm nhẩm một thứ tiếng khác, giọng lên xuống như tiếng của người xứ bên kia sông. Ba lần ông ngừng, rồi lắc đầu, và mỗi lần lắc đầu thì cái vòng trong tay ông lại xoay thêm một chút.
"Không," ông nói.
"Không là sao thầy?"
"Không phải chữ nào tao biết. Không phải chữ nho, tao biết chữ nho. Không phải chữ Tây, chữ Tây tao đọc được vài cái. Không phải chữ của người bên kia sông, tao biết chữ của họ." Thầy Phụng nhìn anh qua cặp kính. "Mày hỏi làm chi nhiều?"
"Tôi hỏi cho biết."
"Biết để làm gì?"
"Tôi không biết."
Ông im. Gió từ ngoài ray thổi vào, làm cuốn sổ trên bàn lật nửa trang.
"Xong chưa?" Cả lại hỏi từ gốc cây.
"Xong rồi," Nhì nói, không quay đầu, "ra giặt khố đi."
Cả đi. Sân vắng. Thầy Phụng đặt cái vòng xuống cái cân tiểu ly, không phải để cân, chỉ để đặt, và nhìn nó nằm trên đĩa đồng.
"Mày bán cho tao."
"Thầy nói sao?"
"Tao mua. Tao trả mày đủ trừ sạch cái sổ nợ của mày. Mày hết ứng, mày về quê trong tháng này, không phải kéo thêm hai năm."
Nhì đứng yên. Nắng nhích một sợi lên cổ anh.
"Thầy trả vậy?"
"Tao trả vậy."
"Vì sao thầy trả nhiều vậy?"
"Vì bạc cũ."
"Bạc cũ không đáng nhiều."
"Mày giỏi hơn tao à?" Thầy Phụng hỏi, giọng không giận, chỉ lạnh. "Tao nói rồi. Tao trả đủ trừ sạch."
"Thầy muốn nó làm gì?"
"Làm của để dành."
Giọng thầy lên nhẹ khi nói, như người trượt chân.
"Tôi không bán."
"Mày nghĩ lại."
"Tôi không bán."
"Mày nợ hơn một năm công, mày mà không bán, mày kéo hai năm nữa, mày chết trên dây kéo."
"Tôi không bán, thầy."
Thầy Phụng nhìn anh thêm một chặp. Rồi ông nhấc cái vòng khỏi đĩa cân, chìa trả.
"Mày tìm thấy nó ở đâu?"
Nhì cầm vòng, nắm vào lòng bàn tay.
"Bắt được ngoài sông."
"Ngoài sông chỗ nào?"
"Ngoài sông."
"Con sông dài."
"Tôi bắt được rồi."
Thầy Phụng không hỏi nữa. Ông dọn nghiên mực, cuốn sổ, cái cân, bỏ vào cái hòm sắt, và đứng dậy, cái áo dài thâm bạc ở khuỷu phất nhẹ trong gió.
"Mày giữ cho kỹ," ông nói. "Mà đừng để người ta thấy mày đeo."
Đêm ấy Nhì nằm ngửa trên sạp, mắt nhìn mái lá tối, nghe Út Lì ngáy ở bên trái và tiếng ếch ngoài ruộng. Anh nhớ số tiền thầy Phụng hứa, không phải con số, vì thầy không nói con số, mà cái sổ nợ sạch, trơn, không còn dòng nào, và quê, và đường về. Anh nhớ nó rất lâu.
Rồi anh nhớ ba hình. Hàng ngay. Cách đều. Mà thầy Phụng đã đọc ba lần bằng ba giọng và lắc đầu ba lần.
Anh giơ cổ tay lên trong bóng tối, vòng hơi lạnh trên da. Anh không thấy gì. Nhưng anh biết ba hình vẫn ở đó.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 7 →