2004 · Chhnok Trou.

Tháng ba năm sau, ông Dự mở sổ ở cột vay.

Cuốn sổ bìa xanh đã đổi màu, góc dưới sờn thành sợi, trang giấy xếp lớp như lá mục. Ông giở tới trang có tên mình ở cột người nợ, nơi dòng chữ cũ vẫn nằm: Ông Dự. Một trăm. Bên dưới dòng đó, một loạt dòng nhỏ hơn, mỗi dòng là một lần ông trả bà Hoa, ghi theo tháng, có phần các nhà gom lại, có phần của riêng ông. Tháng tư, năm đô. Tháng năm, năm đô. Tháng sáu, tám đô. Tháng bảy, không có. Tháng tám, mười hai. Tháng chín, mười. Tháng mười, tháng mười một, tháng chạp, tháng giêng, mỗi tháng năm đô. Tháng hai, không có. Ông cộng bằng ngón tay, rồi cộng lại bằng bút. Ông viết ở cuối cột:

Đã trả sáu mươi. Còn bốn mươi.

Nhà nổi của ông vẫn ở chỗ cũ, ván đã thay hai tấm, mái lá vá ba mảng. Không còn cái ghe riêng ở hiên sau. Sáng nào ông cũng đi bộ ra bến, đứng chờ ghe người khác, lên ghe làm thuê, kéo lưới, ăn công theo mẻ cá.

"Anh Dự, hôm nay anh kéo giùm tôi dây bên phải," chủ ghe nói.

"Dây phải."

"Mẻ này tôi chia anh hai phần."

"Hai phần bằng cá hay bằng tiền?"

"Bằng cá. Chiều tôi trả tiền."

"Cá hay tiền, tôi nhận cả hai."

Chủ ghe trả bằng cá hoặc bằng tiền, tùy ngày. Cá mang về cho chị Tư Đào muối, tiền ông bỏ vào lon sữa bò chôn dưới sàn, mỗi lần nhét một tờ qua khe nắp, nghe tiếng giấy lướt rồi rơi. Tối nào chị Tư Đào cũng hỏi "hôm nay được bao nhiêu", và tối nào ông cũng đáp bằng một con số, dù con số là không.

Sáng tảo mộ, hồ đang rút. Mùa khô năm nay đến muộn hơn năm ngoái nửa tháng. Mé nước còn cách mảnh đất chừng ba trăm bước, dải bùn giữa hai nơi đã nứt nẻ ở rìa, ẩm ở lõi. Có tiếng ve ngoài hàng thốt nốt. Gió nhẹ.

Hai mươi người ra mảnh đất. Chị Tư Đào đi cạnh ông, xách một giỏ lát đựng nước và hai bao thuốc lá. Họ đi bộ thành từng nhóm nhỏ, ông Bảy Tỉnh đi đầu, bác Chea đi sau cùng, thằng cháu bác đi bên cạnh, tay cầm cuốc, đã cao thêm một gang. Chị Sáu Hiền đi với hai đứa con, đứa lớn dắt đứa bé, hai bàn tay nhỏ nắm chặt nhau.

"Chị Sáu," ông Dự nói khi chị đi ngang.

"Dạ."

"Chị khỏe không?"

"Khỏe."

"Tôi ghi chị năm đô tháng sau."

"Dạ. Tôi trả."

Ông dừng ở cái cọc thứ nhất.

Ông đếm bia. Một, hai, ba, bốn. Bia gỗ, ván dày bằng bàn tay, đầu vót nhọn, sơn đỏ đã bạc màu. Bốn cái xếp thành hàng ngang, cách nhau chừng hai sải tay. Cái thứ nhất là của bà Tư Đơm, đứng giữa gò đất đã thấp lại, cỏ non mọc quanh chân. Bên trái là ông Tám Quế, mất hồi tháng bảy, nghe nói trong lúc đi cắt cỏ. Cái thứ ba là đứa nhỏ hai tuổi của nhà chị Sáu Hiền, bia ngắn hơn, chữ viết nhỏ hơn, đứng sát cọc.

Cái thứ tư không có chữ.

"Ai đây?" bác Chea hỏi, nhỏ.

"Nhà đó nhờ tôi không ghi," ông Dự nói.

"Ừ."

"Tôi ghi trong sổ, ngày mất và tuổi. Không ghi tên."

"Ừ."

"Bác thấy được không?"

"Được."

Ông Dự mở sổ. Hai mươi người đứng thành vòng cung quanh bốn cái bia. Ông không bảo họ làm gì. Ông chỉ đọc. Ông đọc ai đã góp, ai chưa kịp góp, ai góp bằng ngày công đào đất. Giọng ông đều, như giọng của người đọc sổ bán cá.

"Ông Bảy Tỉnh, ba chục. Bà Hai Cần, mười lăm, thêm ba. Thím Ba Sương, mười. Anh Năm Tùng, hai chục. Ông Tám Quế, mười hai. Chị Sáu Hiền, tám."

Ông đọc hết tiền mặt. Rồi ông đọc đồ bán. Rồi ông đọc ngày công. Anh Tư Lẫm hai ngày. Anh Hai Đạt ba ngày. Ông Bảy Cừ bốn ngày, có thêm hai ngày mang nước. Có những tên ông đọc xong, người mang tên đó cúi mặt. Có những tên ông đọc xong, người mang tên đó gật.

"Tôi đọc xong," ông nói.

"Cảm ơn anh Dự," ông Bảy Tỉnh nói.

"Ông không cần cảm ơn."

"Ai cũng cảm ơn."

"Vậy thì cảm ơn ông."

Có tiếng cười ngắn, ở phía sau.

Họ đứng lại thêm một hồi. Có người kéo cỏ quanh chân bia. Có người đặt tay lên đỉnh bia, rồi nhấc xuống. Chị Sáu Hiền ngồi xổm ở bia nhỏ, hai tay đặt trên đầu gối, không làm gì. Chị Tư Đào đổ nước từ giỏ lát ra một cái chén sành, đưa mỗi người một ngụm. Ông Dự không nhắc tới cái vòng. Không ai nhắc.

Ông đếm thêm một lần nữa, bằng ngón tay, bốn bia. Rồi ông nhìn dọc mảnh đất, chín mươi bước, bảy mươi lăm bước. Phần lớn đất còn trống. Cỏ vàng, nứt, bóng nắng. Dưới gốc thốt nốt đầu hàng, vũng nước cũ đã khô hẳn, chỉ còn một vòng bùn nứt như mai rùa, và một con chuồn chuồn đậu trên mép vòng bùn ấy, cánh run trong nắng.

"Còn nhiều chỗ," ông Bảy Tỉnh nói.

"Còn."

"Mấy chục người."

"Mấy chục."

"Mấy chục năm."

"Vậy thì mình còn nhiều việc."

Họ ra về khi nắng lên cao. Ông Dự đi cuối, cùng chị Tư Đào. Ngang cái cọc cuối ông dừng, mở sổ.

"Tháng này tôi trả mười đô," ông nói.

"Anh có không?"

"Có. Các nhà gom được sáu đô, bốn đô còn lại lấy trong lon sữa bò."

"Còn lại mấy?"

"Bốn mươi trừ mười."

"Ba mươi."

"Ba mươi."

Chị Tư Đào đỡ cuốn sổ cho ông viết. Ông viết dòng cuối, nét chữ vẫn đứng và tròn:

Tháng ba. Trả mười. Còn ba mươi.

Rồi ông gấp sổ lại, kẹp vào nách, và đi tiếp dọc con đường đất ven bờ, về phía nhà nổi, nơi mái lá vá ba mảng phơi nắng.

Hết Chương 53
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 54 →
← TrướcTiếp →