1911 · Don Khon.
Cái máy mới về đường ray vào đầu mùa khô, thay cho cái máy cũ tháng nào cũng nằm xưởng mấy bận, vào một buổi sáng mà không ai trong lán được báo trước, và tiếng của nó đến trước hình của nó, một tiếng còi dài, the thé, cao hơn hẳn tiếng còi khàn của cái máy cũ, làm bầy gà đồn bay tung khỏi chuồng và làm Nhì, đang đứng ở bến dưới với một bao muối trên vai, đặt bao xuống đất mà không biết mình đã đặt.
Nó chạy bằng than. Nó đen và thấp, thân nóng ran như nồi cơm sôi, phía trước là cái ống khói ngắn phụt khói đặc bay ngang đường ray theo gió, mang mùi than cháy đến tận cái lán. Nó kéo sau lưng sáu toa nối nhau, mỗi toa đầy bao cói, đầy thùng gỗ, và nó kéo chúng lên luôn khúc dốc chân bến, chỗ cái máy cũ phải đứng chờ người kéo toa lên, bằng một cái rùng mình đều của sắt, không hô, không hự, không một ai khoác dây vào vai.
"Cái máy mới," ông cai nói, đứng cạnh Nhì, thanh tre cầm lỏng trong tay.
"Cái máy mới."
"Một chuyến của nó bằng năm chuyến máy cũ với tụi mày."
"Năm."
"Năm. Có khi sáu, nếu than tốt."
Nhì nhìn cái máy chạy qua, khói bay qua mặt anh, và anh đếm sáu toa, rồi đếm nhịp bánh sắt trên ray, đều, rất đều, đều hơn mọi nhịp hô anh từng nghe.
"Mày coi nó chạy chưa?" ông cai hỏi.
"Dạ, đang coi."
"Coi kỹ. Mai nó chạy hai lần."
"Dạ."
Đội kéo giảm từ mười xuống ba trong vòng một tháng. Ông cai gọi từng người lên, đọc tên theo một mảnh giấy do thầy ký chép, và người nào bị gọi thì nhận tiền công cuối, lĩnh bao cói đựng đồ riêng, rồi đi, về quê, hoặc sang bên kia sông tìm việc khác. Cả đã đi từ hai năm trước. Út Lì đi vào tuần thứ hai, khóc, không nói với ai là khóc, và trước khi bước xuống bến còn quay lại hỏi Nhì một câu.
"Tao về quê. Mày ở lại hả?"
"Ở."
"Ở bốc muối hả?"
"Bốc cái gì cũng được."
Ba người còn lại giữ việc chèn bánh, đẩy toa những hôm cái máy mới trở chứng, và Nhì không nằm trong ba người ấy.
"Mày xuống bến bốc dỡ," ông cai nói. "Bốc dỡ nhẹ hơn kéo."
"Dạ. Một buổi bao nhiêu kiện, ông?"
"Cỡ trăm."
"Mày không hỏi vì sao hả?"
"Dạ, không."
Ông cai nhìn anh, thanh tre gõ nhẹ vào lòng bàn tay, rồi quay đi.
Anh bốc dỡ từ sáng đến chiều ở chân bến, nơi những kiện hàng từ toa xuống thuyền, từ thuyền lên toa, và nơi anh đếm mỗi buổi số kiện qua tay mình. Buổi sáng đầu tiên chín mươi hai kiện. Buổi chiều tám mươi bảy. Buổi sáng thứ hai chín mươi tám. Anh không còn đếm chuyến, vì không còn chuyến, chỉ còn một cái máy đi qua và một người đứng nhìn.
Gần bến, về phía thượng lưu, người ta đang dựng một cây cầu. Nó nối hai đảo, và nó không giống bất cứ cây cầu nào anh đã thấy, những cây cầu tre bắc qua suối, những cây cầu ván bắc qua rạch. Nó có trụ cao dựng giữa lòng sông, giàn gỗ vây quanh, và đám thợ trên giàn đổ xuống khuôn một thứ bột xám trộn nước, nhão, nặng, mà sau một đêm biến thành đá. Anh đứng nhìn họ đổ mỗi chiều, nhìn bột xám chảy vào khuôn từng gáo từng gáo, và đếm gáo thay cho đếm chuyến.
Còn câu hỏi, anh vẫn hỏi.
Không phải bằng lời. Từ cái ngày thầy ký Phụng nhìn cổ tay anh, trắng một vòng, và hỏi nó đâu, anh không còn mở miệng hỏi ai nữa. Nhưng mỗi lần có người mới đến đảo mà anh nghe nói biết chữ, một ông thầy, một người thợ, một người buôn đi qua, anh tìm cách ngồi cạnh họ vào buổi nghỉ, và khi họ nhìn anh, anh đưa cổ tay trần ra, xoay ngửa, và dùng ngón cái phải bẹt vạch ba lần lên chỗ da còn trắng, ba lần, cách đều. Họ nhìn. Có người hiểu, có người không hiểu. Cả hai loại đều lắc đầu, và nhiều người nói một câu giống nhau, "xin lỗi anh", như thể họ nợ anh một thứ gì.
Trong bốn năm có ba mươi mốt người như vậy. Anh nhớ từng người như nhớ từng bao muối. Một ông thầy giáo trẻ từ Huế vào dạy chữ cho con quan Tây, một. Một ông thợ đá người Hoa, hai. Một người thợ in từ Sài Gòn lên, ba, ông bảo: "Khuôn nào tôi đúc cũng không có cái này." Hai ông lái đò người Lào, bốn và năm. Một ông thầy thuốc bắc, sáu, ông bảo: "Không phải tên vị thuốc." Một người đàn bà bán sách cũ đi theo thuyền, bảy. Một cậu học trò từ Hà Nội theo cha vào làm đồn, tám. Một nhà sư người Khmer đi qua, chín. Một viên thông ngôn, mười, ông bảo: "Ba thứ tiếng tôi nói đều không có chữ này." Cứ thế, người nối người, đến số ba mươi mốt là một cậu thợ nề trẻ đang đổ cây cầu, biết đọc đầu mấy con số Tây, và nhìn cổ tay anh với vẻ áy náy.
"Tôi biết số, chớ không biết chữ này," cậu nói.
"Cảm ơn."
"Anh hỏi hoài hả?"
"Hỏi."
Anh đi.
Chiều chiều, sau khi tiếng còi cuối cùng của cái máy mới đã tan trên đường ray, anh không về lán ngay. Anh đi ra bến trên, nơi bãi hạ thủy cũ vẫn còn hai thanh gỗ tròn mục nằm bỏ trên đất, nơi bờ sông dốc xuống bùn xốp và nước. Anh đứng ở mép đất, chân trần, nhìn xuống.
"Mày đứng đây hoài," ông cai nói, từ sau lưng.
"Dạ."
"Dưới đó có cá hả?"
"Không."
Ông đi.
Nước đục, nâu, chảy chậm. Có bóng một con chim bay qua trên mặt nó, rồi không còn.
Anh nhìn chỗ ấy, cái chỗ gần hai thanh gỗ, cách bờ chừng ba sải tay, nơi một cái sáng đã rơi xuống một buổi mùa khô bốn năm trước, và anh nhìn lâu, đến khi nắng chiều nhuộm đỏ cả mặt sông và những vệt sáng chạy ngang, đỏ, dày, hết cái này đến cái khác, đến nỗi không còn phân biệt được cái sáng nào là của mặt trời, cái sáng nào là của nước.
Nước ở đó vẫn là nước.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 48 →