2003 · Chhnok Trou.
Chị Tư Đào báo tin lúc trời còn tối, tiếng chị gọi từ mé ghe vọng lên nhà ông Dự như tiếng chim cú.
"Anh Dự. Anh Dự."
Ông Dự dậy, xỏ quần, ra tới cửa sàn. Trong bóng, chị đứng trên ghe nhỏ mượn của ông Bảy Tỉnh, tay còn bám sào.
"Bà Tư Đơm."
"Dạ."
"Bà đi rồi."
"Lúc nào?"
"Chắc hồi khuya. Tôi qua mang cháo sáng, bà nằm yên, tay để trước ngực."
"Bà có nói gì không?"
"Không. Bà ngủ."
"Tối qua mình ở với bà tới mấy giờ?"
"Tới lúc bà bảo tôi về."
"Bà bảo sao?"
"Bà bảo chị về lo cơm cho anh Dự."
"Rồi mình về?"
"Rồi tôi về."
Ông Dự không hỏi thêm. Ông vào nhà lấy cái túi vải, xỏ dép, xuống ghe. Chị Tư Đào chèo, ông ngồi ở mũi. Trời đang sáng dần, bên kia hồ một vệt cam mỏng, mặt nước chưa có màu, đen và dẹt như tấm kính. Ếch ngưng kêu. Tiếng chèo khua đều, nặng.
Nhà nổi của bà Tư Đơm là cái nhỏ nhất xóm, ván cũ, mái lá, buộc vào cột nhà bên cạnh bằng ba sợi dây xơ dừa. Bên trong sạch. Cái giường tre kê sát vách, trên đó bà nằm trên chiếu, đầu gối lên một cái gối bông nhỏ, hai bàn tay đan trước ngực. Tóc bà bạc, buộc túm. Mặt bà không có gì lạ, chỉ hơi nhỏ lại, như người ngủ say.
"Bà dặn tôi hôm qua," chị Tư Đào nói.
"Dặn gì?"
"Bà dặn nếu cái vòng không bán được thì chôn với bà."
"Bà nói vậy?"
"Bà nói vòng của tôi, chôn với tôi."
"Hôm qua?"
"Hôm qua. Tôi nói sao bà nói vậy, bà nói tôi nói vậy."
Ông Dự mở túi vải. Ông lấy cục vải đỏ ra, tháo nút. Cái vòng nằm trong lòng bàn tay ông, đen, mỏng, nhẹ. Ông nhìn nó một nhịp.
"Mình đặt cho bà," ông nói.
"Anh đặt."
"Mình đặt đi. Mình gần bà hơn."
"Tôi đặt có đúng không?"
"Đúng."
Chị Tư Đào nhận cái vòng bằng hai tay. Chị bước tới bên giường, nhẹ chân. Chị cầm bàn tay phải của bà lên khỏi ngực, mở các ngón, đặt cái vòng vào lòng bàn tay, rồi gấp các ngón lại trên nó. Tay bà lạnh và cứng, nhưng các ngón vẫn gập lại được. Chị đặt tay bà xuống như cũ.
Ngoài kia, tiếng người bắt đầu tụ trên mặt nước, tiếng ghe va vào cột nhà.
Mười bốn người đàn ông ra mảnh đất khi mặt trời lên được hai sào.
Ông Dự đi đầu, cuốn sổ dưới nách, bên cạnh ông là ông Bảy Tỉnh và bác Chea. Phía sau họ là hai người khiêng tấm ván lót chiếu, hai người nữa thay phiên, các anh khác mang cuốc, xẻng, dây thừng. Họ đi bộ trên đường đất ven bờ, nắng phơi lưng, mồ hôi chảy thành vệt. Không ai nói. Chỉ có tiếng dép cọ trên đất khô và tiếng thở.
Ra tới mảnh đất, họ dừng ở cái cọc thứ nhất.
"Đào ở đâu?" anh Năm Tùng hỏi.
"Cách cọc này mười bước, về phía hồ," ông Dự nói.
"Sâu bao nhiêu?"
"Tới ngang ngực."
"Anh đo bằng gì?"
"Bằng cuốc của tôi. Cán cuốc dài tới ngực tôi."
Ông cầm cuốc, bước mười bước từ cái cọc, và cắm cuốc xuống. Đất khô nứt, màu xám. Ông bổ nhát đầu. Tiếng đất rời, nặng.
Thợ nhà ông Sarun đến sau, hai người, mang theo cưa, búa và mấy tấm ván. Họ làm việc lặng lẽ. Một người ngồi xổm đo khoảng đất, người kia cưa ván. Ông Dự nhìn họ làm, rồi quay lại với cái hố.
"Đổi tay," ông Bảy Tỉnh nói.
"Tôi đào chưa mệt."
"Đổi đi anh. Còn nhiều việc."
"Ừ."
Họ đào luân phiên, năm người một lượt. Ông Dự ghi tên vào sổ, tay dính đất.
"Anh Năm Tùng, đào."
"Ghi rồi."
"Anh Tư Lẫm, đào."
"Ghi rồi."
"Ông Tám Quế, khiêng."
"Tôi khiêng."
"Chú Tư Hậu, khiêng."
"Tôi khiêng."
"Ông Bảy Cừ, ngồi lại."
"Ngồi lại ở đâu?"
"Ở cọc. Giữ dây."
"Ừ."
"Anh Hai Đạt, đào. Ông Chín Phúc, đào. Bác Chea, giữ giấy."
"Giữ giấy."
Họ ghi tên từng người. Ông Dự ghi ai đào, ai khiêng, ai ngồi lại, ai mang nước. Mười bốn tên. Nét chữ hơi run, vì đất bám vào ngón tay và vì nắng. Ông không dừng.
Hố sâu dần. Đất đào lên chất thành đống bên cạnh, cao dần, cỏ khô rơi lả tả. Tới nửa chừng đất đổi màu: xám thành nâu, nâu thành vàng sẫm, ẩm. Ở dưới, cái cuốc chạm vào một lớp đất sét mịn, sáng bóng. Ông Dự bước xuống, sờ thử lớp đó bằng đầu ngón tay.
"Dừng," ông nói. "Đủ sâu."
"Tới ngực chưa?" anh Năm Tùng hỏi.
"Tới ngực."
"Đất sét rồi."
"Đất sét thì nước không ngấm nhanh."
"Ông biết vậy?"
"Tôi nghe người già nói."
"Khiêng," ông Dự nói.
"Bốn người."
"Bốn người. Chậm."
Họ khiêng bà xuống. Hai người đứng trên, hai người đứng dưới. Tấm ván nghiêng, chiếu trượt, rồi được kéo thẳng lại. Bà nằm đúng giữa hố, nhỏ trong cái hố lớn. Không ai nói. Một đứa trẻ đi theo từ xa, đứng ngoài cọc, bị mẹ nó kéo đi.
Họ lấp. Đất đổ xuống từng xẻng, tiếng đầu rơi trên chiếu, nặng và đục. Rồi tiếng đất rơi trên đất. Ông Dự đứng bên miệng hố, nhìn từng xẻng. Nắng thẳng đứng, bóng người đổ ngắn dưới chân.
Lấp xong, cái gò thấp nhô lên khỏi mặt đất một gang. Anh Tư Lẫm vỗ nhẹ đất cho chắc. Ông Bảy Tỉnh mang tới tấm bia gỗ, một thanh ván dày bằng bàn tay, vót nhọn đầu, trên mặt có chữ viết bằng sơn đỏ do thằng cháu ông viết từ sáng: Bà Tư Đơm. Ông Dự cắm bia xuống đầu gò, dùng báng cuốc đóng vào ba nhát.
"Ông Bảy, thẳng chưa?" ông hỏi.
"Chưa biết. Để tôi đứng lùi ra coi." Ông Bảy Tỉnh lùi ba bước, nheo mắt. "Nghiêng một chút."
"Phía nào?"
"Phía cái hồ."
Ông Dự đóng thêm một nhát. Bia đứng thẳng.
"Còn ai chưa rửa tay?" bác Chea hỏi.
"Tôi," anh Hai Đạt nói.
"Đây."
"Cảm ơn bác."
Họ rửa tay bằng nước trong chai nhựa, mỗi người được rót một ít, cho đất trôi khỏi kẽ móng. Rồi họ đi về, từng nhóm hai ba người, tới cái cọc cuối ai cũng liếc lại.
Ông Dự ngồi lại một mình, bên bia, mở sổ trên đầu gối. Thanh ván còn mùi sơn, mùi gỗ tươi. Gió từ hồ thổi qua cỏ khô, rạp xuống, dựng lên.
Ông viết:
Bà Tư Đơm, tám mươi mốt tuổi. Người thứ nhất.
Ông đọc lại một lần. Rồi ông đóng sổ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 46 →