2003 · Chhnok Trou.

Đầu tháng ba, ba người xuống nhà ông Sarun bằng ghe của ông Bảy Tỉnh.

Ông Dự ngồi mũi ghe, túi vải trên đùi, trong túi có chín xấp tiền cột dây thun và cuốn sổ bìa xanh. Bác Chea ngồi giữa, chắp tay trên đầu gối. Ông Bảy Tỉnh chèo lái ở đuôi. Hồ buổi sáng phẳng, màu thiếc, không gợn, chỉ có vệt ghe rẽ một đường thẳng. Xa xa vài cánh cò trắng đậu ven bãi bùn, thấp, thành một hàng. Mùi nước cạn, mùi lá thối, mùi khói bếp từ những nhà nổi bên bờ.

Nhà ông Sarun nằm cuối bãi, nhà gạch mái ngói, sân lát xi măng, cổng sắt sơn xanh. Cái xe máy cũ dựng gần cổng. Mấy con gà mái bới đất ở hàng rào. Trên hiên có ba cái ghế mây và một cái bàn tròn, trên bàn bày ấm trà và khay bánh in đã bóc vỏ.

"Mời mấy ông," ông Sarun nói.

"Chào ông."

"Ngồi đi. Hồ năm nay xuống sớm."

"Sớm hơn năm ngoái nửa tháng," ông Bảy Tỉnh nói.

"Ông chèo lâu không?"

"Chừng nửa giờ."

"Bà con trong làng khỏe hết không?"

"Khỏe," ông Bảy Tỉnh nói. "Mùa này ít bệnh. Mùa mưa mới nhiều."

Ba người ngồi. Ông Sarun rót trà, bốn ly, đặt một ly ra trước mỗi người.

"Mấy ông đủ tiền chưa?"

"Đủ," ông Dự nói.

"Chín trăm."

"Chín trăm."

"Đưa tôi coi."

Ông Dự mở túi vải, lấy ra chín xấp. Ông đặt từng xấp lên mặt bàn tròn, ngay ngắn, như xếp gạch. Mỗi xấp là một trăm, mười tờ mười đô, buộc dây thun đỏ. Ông xếp xong, lùi tay lại.

"Ông đếm đi."

"Tôi đếm."

Ông Sarun tháo dây thun ra, rải từng tờ. Ông đếm to bằng tiếng Khmer rồi nhắc lại bằng tiếng Việt cho ba người nghe. Mười, hai mươi, ba mươi. Tiếng giấy sột soạt. Ông đếm xấp thứ nhất, xấp thứ hai, xấp thứ ba. Ông Bảy Tỉnh bấu tay vào đầu gối. Bác Chea nhìn mặt bàn.

"Ba trăm."

"Ba trăm."

"Sáu trăm."

"Sáu trăm."

"Chín trăm." Ông Sarun ngả người ra ghế. "Đủ."

"Có tờ nào rách không?" ông Bảy Tỉnh hỏi.

"Không tờ nào."

"Có tờ nào giả không?"

"Tôi coi hết rồi. Không tờ nào."

"Vậy là đủ."

"Đủ."

"Giờ làm giấy."

Ông vào nhà. Lúc trở ra ông cầm một tờ giấy khổ lớn, một cây bút bi, một con dấu nhỏ đỏ trong hộp sắt. Ông trải giấy lên bàn, đè mép bằng ly trà, và viết. Ông viết chữ Khmer, từng dòng ngay hàng, nét tròn và nghiêng. Chỗ nào có số ông viết số, chỗ nào có tên người ông viết thêm tên bằng chữ cái Tây ngay bên dưới. Ba người đứng nhìn từ phía sau vai ông.

"Người bán," ông Sarun nói, vừa viết. "Sarun. Người mua."

Ông dừng bút.

"Ai đứng tên?"

"Bác Chea," ông Dự nói.

"Chea."

"Chea."

"Chea gì nữa?"

"Chea Sokha."

Ông Sarun viết. Ông viết chậm, từng chữ, rồi ngẩng đầu.

"Ông Chea."

"Dạ."

"Ông đứng ra mua, ông chịu."

"Dạ."

"Ông ký ở đây."

Bác Chea bước lên, hai tay chắp. Ông cúi xuống bàn, cầm cây bút. Ông ký chậm, nét chữ Khmer cong và dài, như một sợi dây thả lên mặt giấy. Ký xong ông đặt bút xuống, lùi về chỗ cũ, mắt không nhìn ai.

"Giờ ông Sarun ký."

Ông Sarun ký. Ông đóng dấu đỏ ở góc, nhấn mạnh. Ông thổi lên mặt giấy cho mực khô, hai lần.

"Xong."

Tờ giấy nằm trên bàn. Ông Dự cúi xuống đọc. Chữ Khmer ông không đọc được, ông đọc những gì đọc được, từ trên xuống dưới, chậm. Con số ngày. Chín mươi, bảy mươi lăm. Chín trăm. Rồi dòng cuối, bác Chea chỉ tay, nói nhỏ: người mua. Bên dưới là cái tên. Chea Sokha.

Ông đọc dòng đó. Ông đọc lại một lần nữa. Ông đặt ngón tay lên dòng đó, rồi nhấc ra.

"Ông có hỏi gì không?" ông Sarun nói.

"Không."

"Ông cầm giấy này?"

"Bác Chea cầm."

"Giấy ghi tên ông ấy."

"Dạ."

Ông Sarun gấp tờ giấy làm ba, đưa cho bác Chea. Bác Chea nhận bằng hai tay, cúi đầu. Bác gấp thêm một lần, rồi bỏ vào túi áo trong.

"Còn một điều," ông Sarun nói. "Thợ."

"Dạ."

"Muốn đổ nền hay xây mộ thì thuê thợ nhà tôi."

"Dạ."

"Tôi sẽ báo giá khi các ông cần."

"Dạ."

"Giờ mấy ông ra bờ coi đất cũng được."

"Cảm ơn ông trà."

"Trà nguội rồi, mấy ông chưa uống."

"Để tôi uống."

Ông Dự cầm ly lên, uống một hơi hết. Hai người kia làm theo.

Họ đi ra bờ. Ông Sarun không đi cùng, đứng ở hiên nhìn theo, hai tay chống hông. Ba người đi bộ qua sân xi măng, qua cổng sắt, qua hàng rào có con gà mái, rồi theo con đường đất ven bãi tới mảnh đất.

Cỏ vẫn vàng. Nền đất vẫn nứt. Bốn cái cọc tre đã được ai đóng thêm ở bốn góc, gọn, thẳng. Ông Dự đếm cọc, bốn. Ông Bảy Tỉnh đứng bên trái, bác Chea bên phải. Họ nhìn mảnh đất vuông, không ai bước vào.

"Ai đóng thêm cọc?" ông Bảy Tỉnh hỏi.

"Thằng cháu tôi," bác Chea nói. "Hồi sáng sớm."

"Nó đóng thẳng."

"Thẳng hơn tôi."

"Nó mấy tuổi?"

"Mười bốn."

Cách đó chừng trăm bước, bãi bùn bắt đầu thấp dần xuống mặt hồ. Ở ngoài xa, một chiếc ghe độc mộc đậu im, người trên ghe đang thả lưới, tiếng khua nước nghe rõ trong buổi sáng yên.

Bác Chea nhích lên một bước, rồi bước nữa, và đứng xuống mép đất. Ông cúi xuống nhặt một nắm đất, bóp trong lòng bàn tay. Đất vỡ thành bụi mịn, màu xám. Ông thả cho bụi rơi qua các kẽ ngón.

"Đất khô thế này mà đào được không?" ông nói.

"Đào được," ông Bảy Tỉnh nói. "Mùa khô đất dễ đào hơn mùa mưa."

"Mùa mưa nước lên tới đâu?" bác Chea hỏi.

"Tới sát mé đất. Có năm liếm lên cái cọc thứ nhất."

"Vậy mình đào hố cạn không được."

"Không được," ông Dự nói. "Phải đào sâu, tới lớp đất sét."

Họ đứng thêm một hồi. Gió từ hồ thổi qua, cỏ khô rạp xuống rồi dựng lên, thành những vệt sáng chạy dọc cánh đồng nhỏ.

Rồi ông Dự mở sổ. Ông đứng nguyên chỗ, trang giấy bay phần phật trong gió, và ông phải lấy ngón cái đè lên.

"Ông ghi gì đó?" ông Bảy Tỉnh hỏi.

"Ghi sổ."

"Ghi sao?"

"Ghi đủ chín trăm. Còn nợ một trăm."

"Ghi vậy được."

Ông kẻ một gạch ngang ở cuối cột tiền. Ông viết bên dưới, nét chữ đứng, tròn, đọc lên thành tiếng khi viết:

Đã đủ chín trăm. Còn nợ một trăm.

Ông đóng sổ lại.

Hết Chương 44
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 45 →
← TrướcTiếp →