2003 · Chhnok Trou.

Cuối tháng hai, ông Dự gọi cả làng họp lại ở nhà ông Bảy Tỉnh để đọc sổ.

Họ ngồi như lần trước, đàn ông ngồi trước, đàn bà ngồi sau, trẻ con ngoài hiên. Khác lần trước ở chỗ sàn nhà chật hơn, vì người đến đông hơn. Hơn bốn mươi người, nhiều người ngồi trên bậc cửa, trên be ghe buộc sát hiên. Trời oi. Quạt tay phe phẩy, tiếng nan tre cọ vào nhau như tiếng mưa nhỏ trên lá. Mùi mồ hôi, mùi trầu cau, mùi dầu gió xoa trên thái dương một bà già nào đó.

Ông Dự ngồi giữa sàn, cuốn sổ bìa xanh mở trên đầu gối, hai tay đè hai mép giấy.

"Tôi đọc," ông nói. "Đọc từng hộ, từng số. Ai thấy sai thì nói."

"Đọc đi," ông Bảy Tỉnh nói.

"Ông Bảy Tỉnh, ba chục. Bà Hai Cần, mười lăm. Thím Ba Sương, mười. Anh Năm Tùng, hai chục. Ông Tám Quế, mười hai. Chị Sáu Hiền, tám. Bà Út Mới, bảy. Anh Tư Lẫm, mười."

Ông đọc tiếp. Giọng ông đều, không lên không xuống, mỗi tên là một nhịp, mỗi số là một nhịp. Bà Tư Dung, năm. Ông Chín Phúc, mười. Chị Ba Quyên, mười lăm. Anh Hai Đạt, hai chục. Ông Bảy Cừ, hai lăm. Có những tên đọc xong, người mang tên đó gật đầu, có tên đọc xong, người mang tên đó cúi mặt. Có một người đàn bà đưa tay lên, hỏi nhỏ.

"Sổ ghi tôi đưa hôm thứ sáu, mà tôi đưa hôm thứ ba."

"Chị Tư Mai?"

"Dạ."

"Để tôi coi." Ông lật. "Đây. Thứ sáu. Tôi ghi lộn ngày."

"Dạ."

"Tôi sửa."

Ông sửa. Ông nhìn lên, hỏi cả nhà: "Còn ai sai?"

Không ai nói.

Ông đọc hết cột tiền mặt. Giữa chừng ông ngừng hai lần để uống nước. Ông đọc sang cột đồ bán, chú Tư Hậu ba lăm, anh Năm Tùng hai lăm, thím Ba Sương ba chục, ông Tám Quế mười lăm, chị Sáu Hiền hai chục, anh Tư Lẫm mười, bà Út Mới năm, ghe ông Dự bốn chục. Đọc xong ông ngước lên.

"Tiền mặt sáu trăm hai chục," ông nói. "Đồ bán một trăm tám chục. Cộng tám trăm."

Không ai nói.

"Cần chín trăm."

Không ai nói.

"Còn thiếu một trăm."

Trong sự im lặng, tiếng nước vỗ vào thân cột nghe rõ từng nhịp. Một đứa nhỏ ngoài hiên làm rơi cái chén, tiếng sành vỡ khô, người mẹ nó nạt khẽ. Ông Bảy Tỉnh đặt tay lên đầu gối, đứng dậy rồi lại ngồi xuống.

"Còn nhà nào chưa góp không?" ông hỏi.

"Còn mấy nhà," ông Dự nói. "Mấy nhà này ghi chưa góp. Họ có việc riêng. Hoặc họ có cách riêng."

"Cách riêng là cách nào?"

"Tôi không biết. Tôi không hỏi."

"Anh không hỏi vì sao?"

"Vì nhà nào cũng có cái khó."

"Vậy một trăm tính sao?"

"Tôi đi vay."

Có tiếng thở ra thành nhiều tiếng nhỏ trong căn nhà. Ông Bảy Tỉnh nhìn ông Dự.

"Anh vay ai?"

"Bà Hoa."

"Bà Hoa chủ vựa?"

"Bà Hoa."

"Anh vay tên ai?"

"Tên tôi."

"Ông Dự," bà Hai Cần nói từ phía sau. "Nếu ông vay tên ông, ai trả?"

"Làng trả."

"Làng trả ra sao?"

"Mỗi nhà trả dần."

"Dần là mấy năm?"

"Tôi chưa biết."

Có những đầu người ngoảnh nhìn nhau. Ông Dự ngồi yên.

"Mỗi nhà ghi tên trả," ông nói tiếp. "Tôi ghi trong sổ này, cột vay. Ai trả bao nhiêu, ngày nào, tôi ghi. Bà con xem."

"Anh làm sổ cho chắc ăn," chú Tư Hậu nói.

"Sổ cho khỏi quên."

Họ giải tán khi mặt trời vừa lặn. Người ra trước, người ra sau, đàn bà gom con, đàn ông gom ghe. Không ai nói thêm. Bà Hai Cần đi ngang ông Dự, đặt vào tay ông một nắm gì nhỏ, dúm trong khăn tay. Ông mở ra: ba tờ một đô, vuốt phẳng, gấp ba.

"Bà đã góp mười lăm rồi."

"Cái này không phải góp. Mua giấy mua mực cho cuốn sổ."

"Dạ cảm ơn bà."

"Sổ hết giấy thì ghi không được."

"Dạ, tôi cất riêng."

Sáng hôm sau ông đi tìm bà Hoa.

Vựa cá nằm cuối xóm, trên một cái phao bê tông lớn, mái tôn, ba mặt hở. Mùi cá, mùi mắm: cá lóc, cá trê, cá linh khô, mắm sặc trong các hũ sành chồng chất. Thùng đá nổi lềnh bềnh. Bốn người đàn ông đang xếp cá vào thùng, tay trần, đầy vảy bạc. Tiếng chặt đầu cá khô khan, nhịp nhàng. Từ máy cassette trên kệ có tiếng nhạc đám cưới Khmer lẫn tiếng rè.

Bà Hoa ngồi sau cái bàn gỗ, đeo đôi kính lão, tay cầm máy tính bấm cộng. Bà năm mươi lăm tuổi, to con, mặc áo bà ba hoa nhỏ, cổ đeo sợi dây chuyền vàng mỏng.

"Chào bà Hoa."

"Chào anh Dự."

"Tôi muốn nhờ bà một chuyện."

"Chuyện tiền."

"Dạ."

"Bao nhiêu?"

"Một trăm."

"Một trăm đô."

"Dạ."

"Anh làm gì với một trăm?"

"Mua đất."

"Đất của ai?"

"Của làng."

"Đất để làm gì?"

"Chôn người."

Bà Hoa bỏ máy tính xuống. Bà tháo kính lão, lau bằng vạt áo, đeo lại.

"Ai trả?"

"Tôi."

"Anh Dự."

"Dạ."

"Anh vừa bán ghe, anh còn đi làm thuê."

"Dạ."

"Tôi hỏi lại. Ai trả?"

"Tôi. Tên tôi. Tôi ký."

"Anh hẹn bao giờ?"

"Bà nói đi."

Bà Hoa nhìn ông Dự, rồi nhìn bốn người đàn ông ở phía sau, rồi nhìn mặt hồ.

"Tôi cho anh vay," bà nói. "Trả dần, có bao nhiêu trả bấy nhiêu."

"Trả dần, một trăm."

"Hết mùa nước sang năm, anh báo tôi còn bao nhiêu."

"Dạ cảm ơn bà."

"Đừng cảm ơn."

"Dạ."

Bà mở ngăn kéo, đếm tiền ra bàn, từng tờ mười, trải thành mười tờ. Ngón tay bà đếm nhanh và đều, như đếm cá. Ông Dự nhìn bàn tay bà, rồi nhìn mười tờ tiền.

"Anh đếm lại đi."

Ông đếm. Mười.

"Ký ở đây."

Ông ký. Tên ông nghiêng một chút, nét cuối kéo dài. Bà Hoa gật, cất tờ giấy vào ngăn kéo, khóa lại.

Ông ra khỏi vựa, bước trên tấm ván bắc qua mặt nước, tay cầm xấp tiền mười tờ. Trưa nắng lóa. Ông đứng giữa tấm ván, sóng xô nhẹ dưới chân, và mở sổ ra.

Ông tìm cột Vay. Cột trống. Ông viết vào đó:

Ông Dự. Một trăm.

Ông nhìn dòng chữ một nhịp. Ông viết tên mình ở cột của người nợ.

Hết Chương 43
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 44 →
← TrướcTiếp →