2003 · Chhnok Trou.

Cuối tháng hai, nhà nổi mất điện từ chạng vạng.

Cả xóm tối cùng một lượt. Máy phát của bà Hoa ở vựa cá ngưng tiếng, và sau tiếng ấy trên mặt hồ chỉ còn tiếng ếch, tiếng sóng vỗ vào thân phao, tiếng ai đó chèo qua trong bóng. Mùi dầu đèn thắp lên từ nhà này sang nhà khác, mùi khói, mùi cá kho. Nước đã cạn hẳn xuống mùa khô, mé hồ trơ ra một vạt bùn đen rộng, và gió từ mé đó thổi vào mang theo mùi bùn nồng.

Ông Dự mở cái thùng gỗ đựng ắc quy dưới gầm giường. Chiếc ắc quy ô tô cũ ông mua lại ở chợ trên bờ từ hồi mùa mưa năm ngoái, nối bằng hai sợi dây đồng quấn băng keo với một bóng đèn nhỏ chừng ngón tay cái, vặn vào đui sứ. Ông gài kẹp vào cực. Bóng đèn nháy một lần, rồi sáng, một cái chấm vàng gắt, quầng sáng ngắn, chỉ tới hết cái chiếu.

Chị Tư Đào đã ngồi sẵn ở góc sàn, cạnh cuộn lưới ni lông xanh, kim đan bằng tre trong tay. Chị khâu lưới mỗi tối, chừng sáu mươi mắt một đêm. Ông ngồi xuống đối diện, rút trong túi vải ra cục vải đỏ.

"Anh lại coi nữa hả?" chị hỏi.

"Tôi coi lại."

"Anh coi mấy lần rồi?"

"Sáu."

"Sáu lần mà anh còn coi."

"Lần này có đèn."

Ông tháo nút vải, đổ cái vòng ra lòng bàn tay. Bóng đèn chiếu vào nó một vệt vàng đục. Ông nâng nó lên gần bóng, nghiêng mặt ngoài về phía sáng, rồi nghiêng về phía ngược lại. Ông xoay nó ngang, xoay đứng, xoay dốc. Mặt ngoài đen đều, nhẵn, có những vết lõm nông như vết ngón cái ấn lên đất sét. Không có nét nào đủ rõ để gọi là nét.

"Có không?" chị Tư Đào hỏi.

"Không."

"Anh nghiêng thêm đi."

"Tôi nghiêng rồi."

"Nghiêng ngược."

Ông nghiêng ngược. Ánh sáng trượt qua mặt vòng, không bắt vào đâu cả. Một con muỗi bay tới, vo ve quanh bóng đèn, đậu xuống mu bàn tay ông. Ông không đập.

Ông đặt cái vòng xuống đùi, nhắm mắt lại, và đưa đầu ngón tay cái lần trên mặt ngoài.

Ngón tay ông chai, nứt nẻ vì nước và dây lưới. Ông lần chậm, từ chỗ mép trên xuống mép dưới, như người sờ một thớ gỗ để biết chiều vân. Ngón tay đi qua một chỗ lõm, rõ, hơi sâu, nằm nghiêng, rồi hết. Ông lần tiếp. Kế bên, đầu ngón vấp một chỗ gờ, như có như không. Ông lần lại. Lúc thấy, lúc mất. Ông lần qua thêm một khoảng nữa. Cũng vậy.

Ông mở mắt ra.

"Có khắc," ông nói.

"Chữ hả?"

"Tôi không biết là chữ."

"Mấy chữ?"

"Một chỗ lõm. Rõ."

"Một chữ?"

"Một chỗ rõ. Kế bên thì như có như không. Tôi không đọc ra."

"Anh đưa tôi sờ thử."

Chị đặt kim đan xuống. Ông trao cái vòng. Chị nhắm mắt như ông, lần ngón cái chị, chậm. Chị lần qua chỗ thứ nhất, dừng. Lần tiếp, lần lại, lần lại nữa, rồi nhấc tay lên.

"Tôi thấy một chỗ."

"Kế bên nữa?"

"Như có như không."

"Vậy là có khắc thật."

"Hay là vết lưới cọ."

"Lưới cọ thì chạy dài. Cái này lõm tròn."

"Mình đoán được không?"

"Tôi không đoán."

"Ừ."

"Anh Dự."

"Hả?"

"Anh có tính còn thiếu bao nhiêu không?"

"Tôi tính mỗi tối."

"Rồi sao?"

"Còn thiếu một trăm."

"Trước đó anh nói năm trăm chín mươi ba."

"Đó là buổi sáng bán ghe. Từ đó tới nay thêm người góp."

"Thêm mấy nhà?"

"Ba mươi sáu nhà."

"Họ góp bao nhiêu?"

"Mỗi nhà từ năm tới hai chục. Thêm bốn trăm chín mươi ba. Cộng với một trăm hai mươi bảy hôm đầu, tiền mặt là sáu trăm hai chục."

"Sáu trăm hai chục tiền mặt."

"Cộng đồ bán một trăm tám mươi, tám trăm."

"Còn thiếu một trăm."

"Một trăm."

Chị Tư Đào trả lại cái vòng cho ông, gọn trong lòng bàn tay ông. Chị cầm lại cây kim, xỏ tiếp một nút.

"Bà Tư Đơm khỏe không?" ông hỏi.

"Hồi trưa tôi qua thăm. Bà ăn chén cháo."

"Mấy chén?"

"Một."

"Hôm qua mấy?"

"Hai."

"Giảm."

"Bà nói bà không đói."

"Bà nói gì nữa?"

"Bà hỏi anh đã tìm được ai mua cái vòng chưa."

"Mình nói sao?"

"Tôi nói anh đem lên chợ, mà người ta không mua."

"Bà nói gì?"

"Bà nói ừ."

Ông Dự gật. Ông đặt cái vòng vào cục vải đỏ, cuộn lại, thắt nút. Quầng sáng của bóng đèn rung nhẹ, rồi ổn định. Ngoài cửa sổ, vạt bùn bên kia mặt hồ phản chiếu một vệt sao, mờ. Ếch kêu từng đợt, đợt này đứt thì đợt khác nối. Muỗi vo ve quanh tai ông, ông phẩy tay một cái mà không nhìn.

"Anh Dự."

"Hả?"

"Anh còn ghe không?"

"Không."

"Mai anh đi chợ bằng gì?"

"Đi nhờ ghe ông Bảy."

"Ông Bảy đi đâu?"

"Ông Bảy chở cá lên."

"Anh nhờ ông ấy hoài."

"Tôi nhờ cả làng."

"Rồi cả làng nhờ anh."

"Đó là chuyện của làng."

Chị Tư Đào không nói thêm. Chị đan tiếp, kim tre nhấp nhô, ngón tay chị chạm vào từng mắt lưới như người đếm.

Ông mở cuốn sổ bìa xanh dưới bóng đèn, mép giấy đã quăn, lấm vết mực bi ở góc, mùi cá khô thấm vào từ những bàn tay đã cầm. Ông đọc lại cột tên từ trên xuống dưới, bốn mươi bảy hộ, ngón tay dừng ở mỗi dòng. Ông Bảy Tỉnh ba chục. Bà Hai Cần mười lăm. Thím Ba Sương mười. Anh Năm Tùng hai chục. Ông đọc hết cột tiền mặt, rồi cột bán đồ, rồi cột ngày công. Ông đọc xong, gập sổ lại.

Ông ngồi nhìn bóng đèn thêm vài nhịp thở, mắt hơi híp vì chói.

Rồi ông tắt đèn, tháo kẹp khỏi cực ắc quy, để dành điện cho đêm mai.

Hết Chương 42
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 43 →
← TrướcTiếp →