2003 · Chhnok Trou.

Chợ trên bờ họp mỗi ngày, nhưng tiệm ông Hia Kheang chỉ mở từ chín giờ tới trưa.

Ông Dự đến lúc tiệm vừa hé cửa. Ông đi nhờ chiếc ghe chở cá của bà Hoa từ làng lên, ngồi giữa hai thùng đá, tay giữ cái túi vải trên đùi. Gần nửa đường nước nông, ghe phải chống sào. Mùi cá tươi, mùi đá lạnh, mùi dầu chiên bánh từ hàng ăn ven bến. Trên bờ, xe lôi, xe đạp, quang gánh chen nhau trong con hẻm hẹp. Có tiếng đài phát nhạc Khmer từ một sạp băng đĩa, rè và to. Một con chó vàng nằm dưới gầm xe lôi, thè lưỡi, tai giật mỗi khi chuông xe đạp reo.

Tiệm ông Hia Kheang nằm cuối dãy, giữa tiệm thuốc bắc và tiệm may. Cửa kính, bảng hiệu chữ Hoa sơn đỏ, tủ kính nhỏ trưng mấy chiếc nhẫn, vài sợi dây chuyền, một cặp lắc tay trẻ em. Bên trong có mùi dầu máy, mùi hóa chất đánh bóng, mùi trà đậm. Trên vách treo một tấm lịch có hình thác nước và ba cái đồng hồ treo tường chạy ba giờ khác nhau. Một quạt trần quay chậm, mỗi vòng kêu một tiếng cót két.

Ông Hia Kheang ngồi sau quầy, sáu mươi mấy tuổi, đầu hói, cặp kính dày gọng kim loại, hai tay đầy vết sẹo nhỏ của lửa hàn. Ông đang lau một cái đĩa cân bằng miếng da.

"Chào ông Hia."

"Chào. Ông Dự phải không?"

"Dạ phải."

"Ông ở làng dưới."

"Dạ. Chhnok Trou."

"Tôi biết. Ông đi bằng gì lên?"

"Ghe bà Hoa."

"Nhớ mang nón. Nắng chợ gắt."

"Dạ."

"Ông mua hay bán?"

"Tôi bán."

"Ông đem gì?"

Ông Dự mở túi vải, lần tay vào, lấy ra cục vải đỏ thắt nút của bà Tư Đơm. Ông tháo nút, đặt cái vòng lên mặt kính quầy. Nó nằm đó, đen, mỏng, không phản chiếu gì.

"Ông cho tôi xem."

"Dạ."

Ông Hia Kheang nhấc nó lên bằng hai ngón, nhẹ tay như nhấc một con ốc rỗng, xoay dưới ngọn đèn bàn. Ông lật bên trong, lật bên ngoài. Ông gõ nhẹ vào cạnh bằng đầu móng tay, nghe tiếng. Rồi ông đặt nó lên đĩa cân tiểu ly, chỉnh quả cân, đợi cái kim đứng.

"Gần hai chỉ."

"Gần hai chỉ."

"Bạc ta. Không phải bạc trắng mới."

"Dạ."

"Ông bán cho bao nhiêu?"

"Ông ra giá."

Ông Hia Kheang chưa ra giá. Ông cầm cái vòng lên lần nữa. Ngón cái ông miết qua mặt ngoài, chậm, từ trái sang phải. Ông dừng ở một chỗ, miết lại, rồi lại dừng.

"Ông Hia," ông Dự nói. "Ông coi giùm tôi, chữ này là chữ gì."

Ông Hia Kheang ngẩng lên, nhìn ông Dự qua cặp kính dày.

"Chữ nào?"

"Cái mà ông đang sờ."

"Tôi không thấy chữ."

"Có khắc phải không?"

"Có khắc." Ông Hia Kheang nói, giọng chậm. "Không đọc được."

"Mòn quá hả?"

"Mòn."

"Ông không đoán được?"

"Không."

Ông Dự gật. Ông không hỏi thêm.

Ông Hia Kheang đặt cái vòng lên khăn lót trên quầy, chắp hai tay lại, nói bằng giọng người trong nghề.

"Bạc này mòn nhiều. Nấu lại thì hao nhiều. Hao rồi công thợ, hao rồi lửa, còn lại không đủ tiền công. Tôi không nấu."

"Ông không mua?"

"Tôi không mua."

"Bạc mòn đều, ông thấy không, mỏng như lá. Nấu xong chỉ còn một nhúm."

"Ừ."

"Ông đem đi chỗ khác hỏi cũng được. Nhưng ông sẽ nghe câu này nữa."

"Dạ, tôi biết."

Ông Hia Kheang đẩy cái vòng sang phía ông Dự. Ông Dự không cầm ngay. Ông nhìn xuống nó. Ông nhìn đèn bàn, nhìn tủ kính, nhìn cặp lắc trẻ em trong đó.

"Ông Hia."

"Hả?"

"Ba chục năm tôi đánh cá, tôi chưa thấy ai đeo cái này."

"Tôi bán bạc bốn chục năm, cũng chưa."

"Vậy là không ai đeo."

"Ừ."

"Bà Tư Đơm bắt được trong lưới."

"Bà Tư Đơm."

"Bà tám mươi mốt tuổi. Bà để dưới gối một năm."

"Ừ."

"Bà đem góp mua đất."

"Đất làm gì?"

"Chôn người."

Ông Hia Kheang rót trà vào hai cái ly nhỏ, đẩy một ly sang phía ông Dự.

"Ông uống."

"Dạ cảm ơn."

"Trà Triều Châu. Đắng."

"Dạ."

Họ uống. Quạt trần kêu cót két. Bên ngoài, nhạc rè từ sạp băng đĩa ngưng một nhịp, rồi bắt sang bài khác.

"Tôi tiếc," ông Hia Kheang nói.

"Không sao."

"Tôi chỉ có thể cho ông ly trà này."

"Vậy là đủ."

"Ừ."

Ông Dự cầm cái vòng. Ông gói lại vào cục vải đỏ, thắt nút như cũ, bỏ vào túi, kéo dây miệng túi lại.

"Tôi đi đây ông Hia."

"Ông đi cẩn thận."

"Cảm ơn trà."

"Ông còn thiếu bao nhiêu?"

"Năm trăm chín mươi ba."

"Tôi không có."

"Tôi không xin."

"Tôi biết ông không xin."

Ông Dự gật đầu một cái. Ông đẩy cửa kính ra ngoài. Ánh nắng đập vào mặt ông, trắng và gắt, và tiếng chợ ập vào như một cơn nước. Ông đứng lại ở bậc thềm một khắc để mắt quen, rồi bước xuống hẻm.

Ông ghé quán nước dưới gốc me. Ông kêu một ly trà đá, ngồi ở cái ghế nhựa thấp, mở sổ ra kê lên đùi. Ông viết, nét chữ đứng và tròn:

Vòng bà Tư Đơm. Không bán được.

Ông gạch một đường ngang qua dòng Bà Tư Đơm. Một vòng bạc trong cột đồ chưa tính. Ông không xóa. Ông chỉ gạch ngang một đường, đủ để thấy chữ bên dưới.

Rồi ông uống hết ly trà, trả tiền, và đi bộ ra bến đợi ghe bà Hoa về. Bến chiều nắng xiên, mặt nước vàng đục, các thùng đá đã trống nằm xếp hàng ven cầu, nước đá chảy thành vệt dài trên ván. Một chị bán dưa hấu ngồi sau thúng, gõ thử từng quả bằng ngón tay, nghe tiếng. Ông Dự ngồi trên bậc cuối, túi vải đặt giữa hai chân, và đếm các chuyến ghe qua lại, bảy chiếc, tám chiếc, chín chiếc, cho tới khi ghe bà Hoa cập bến.

Hết Chương 41
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 42 →
← TrướcTiếp →