2003 · Chhnok Trou.
Sáng đầu tháng hai, cả làng đem đồ ra bãi bán ngoài đầu xóm.
Bãi là một khoảng đất bùn khô, nứt trắng, nhô ra mé hồ, chỗ ghe thuyền kéo lên sửa trong mùa khô. Nắng sớm đã rát. Đồ bày thành hàng trên đất: ghe nhỏ lật ngửa, lưới xếp thành xấp, máy nổ cũ đặt trên hai thanh gỗ, mấy cái lọp đan bằng tre buộc thành chùm. Mùi dầu nhớt, mùi lưới phơi nắng, mùi cá khô đâu đó gió thổi ngang. Trẻ con chạy dọc hàng, đứa nào cũng được dặn đừng đụng vào đồ người lớn.
Ông Dự ngồi xổm trên một cái thùng gỗ, cuốn sổ bìa xanh trên đầu gối, cây bút kẹp sau tai. Ông ghi từng món một.
"Chú Tư Hậu."
"Cái ghe nhỏ," chú Tư Hậu nói. "Ghe tôi đóng năm chín mươi lăm. Ván còn tốt."
"Ước bao nhiêu?"
"Bốn chục."
"Tôi ghi ba lăm. Có người trả ba lăm là mừng."
"Ừ. Ba lăm."
"Anh Năm Tùng."
"Hai bộ lưới. Một bộ ba chục sợi, một bộ hai chục."
"Hai bộ ước hai lăm."
"Hai lăm đủ."
"Thím Ba Sương."
"Cái máy nổ. Chạy được, nhưng phải đá hai lần."
"Ba chục."
"Ba chục là ít."
"Ba chục, thím. Ai mua máy đá hai lần thì không trả hơn."
"Ừ."
"Ông Tám Quế."
"Cái đăng bắt cá. Mười lăm."
"Chị Sáu Hiền."
"Ghe nhỏ của tui. Hai chục."
"Anh Tư Lẫm."
"Hai tấm lưới ba. Mười."
"Bà Út Mới."
"Mấy cái lọp. Năm đô."
Ông Dự cộng trong đầu, rồi cộng lại trên giấy. Ba lăm, hai lăm, ba chục, mười lăm, hai chục, mười, năm. Một trăm bốn mươi. Ông ngừng bút ở dòng cuối. Ông ngước nhìn bãi.
Ghe của ông nằm ở cuối hàng.
Nó là chiếc ghe lườn dài sáu thước, sơn đen đã xỉn, đáy cạo hà mỗi mùa, đầu mũi có một vết mẻ do va vào cột cầu hồi năm chín tám. Bên trong sạch, ván lót khô, chiếc gáo tát nước treo ở mạn. Ông đã đứng nhìn nó từ lúc nắng mới lên.
"Tôi ghi ghe của tôi: bốn chục," ông nói.
"Anh Dự," ông Bảy Tỉnh nói. "Anh còn nhà nổi nhưng không còn ghe."
"Nhà nổi kéo bằng ghe người khác được."
"Anh đi đánh cá bằng gì?"
"Tôi làm thuê trên ghe người ta."
"Anh Dự."
"Ông Bảy. Mình cần chín trăm."
Ông Bảy Tỉnh không nói nữa. Ông cầm mũ cối xuống phe phẩy.
Người buôn ghe cũ tới khi mặt trời lên được một sào. Ông ngồi trên chiếc xe ba bánh của một cậu thanh niên, từ chợ trên bờ sang bằng đường đê. Ông chừng năm mươi, gầy, da cháy, mặc áo ba lỗ và quần bò xắn tới gối. Tay ông cầm một cuốn sổ nhỏ bìa nhựa, bút bi cột dây thun.
"Chào bà con. Tôi nghe nói mấy ông bán đồ."
"Dạ chào ông," ông Dự nói. "Ông xem cả bãi."
"Tôi xem."
Ông đi một vòng. Ông lật cái ghe của chú Tư Hậu, gõ vào ván, nghe tiếng. Ông nhấc xấp lưới, kéo thử vài sợi. Ông nghiêng đầu nghe máy nổ của thím Ba Sương, đá hai lần, máy ho rồi nổ. Ông tắt máy. Ông lật cái đăng của ông Tám Quế, rồi dừng lâu trước chiếc ghe lườn đen ở cuối hàng.
"Ghe này của ai?"
"Của tôi."
"Ông bán bao nhiêu?"
"Bốn chục."
"Hai lăm."
"Ba mươi lăm."
"Ghe này đáy cạo nhiều, ván mỏng."
"Ván dày bốn phân. Ông gõ nghe."
Ông buôn gõ thêm hai lần. Rồi ông ngẩng lên.
"Bốn chục là hơi cao."
"Bốn chục cũng là giá thấp, ông ơi."
"Tui trả ba mươi."
"Bốn chục."
"Ba lăm."
"Bốn chục."
"Ông cứng đầu thiệt."
"Ông nói vậy tui nghe nhiều rồi."
Cả bãi im. Ông Bảy Tỉnh quay mặt đi nhìn hồ. Bên kia bãi, một đứa nhỏ đang cố đẩy cái lọp tre qua đất, cái lọp lăn nửa vòng rồi nghiêng.
"Cả bãi này, tui trả một trăm sáu mươi," ông buôn nói.
"Hai trăm."
"Một trăm bảy."
"Một trăm tám mươi. Ghe tôi bốn chục, đồ cả làng một trăm bốn. Đúng giá."
"Ông nhẩm lẹ ghê."
"Tôi nhẩm từ nhỏ."
Ông buôn mở sổ nhỏ, nhìn một nhịp, rồi đóng lại bằng một tiếng khô.
"Một trăm tám mươi. Mà tui lấy cả ghe lẫn lưới lẫn máy."
"Lấy cả."
"Trả tiền mặt hôm nay."
"Dạ."
"Tui cần hai người khiêng ghe lên xe."
"Anh Năm Tùng với anh Tư Lẫm."
Ông buôn đếm tiền ngay trên đất, từng xấp mười tờ, rải ra trên tấm bạt cũ. Tiếng giấy sột soạt. Ông Dự đếm theo từng xấp, môi không động. Rồi ông ghi theo tên: ba lăm của chú Tư Hậu, hai lăm của anh Năm Tùng, ba chục của thím Ba Sương. Mỗi người đặt phần của mình vào tay ông bằng hai tay.
"Tôi ghi," ông Dự nói. "Mỗi người một dòng. Ông nào bà nào chưa ghi thì lên đây nhìn."
Họ lên nhìn. Chú Tư Hậu cúi nhìn dòng chữ tên mình trên giấy, lẩm nhẩm. Chị Sáu Hiền nhìn, gật. Anh Tư Lẫm nhìn, cười xòa.
Hai người khiêng chiếc ghe lườn đen lên chiếc xe độ ba bánh của cậu thanh niên. Cái mũi ghe có vết mẻ chổng lên trời, quệt vào dây điện. Ông Dự đứng xa, hai tay buông thõng.
Ông ghi vào sổ, cây bút chạy chậm: Ghe ông Dự. Bốn mươi.
Ông không nhìn theo chiếc xe. Ông đóng sổ, bỏ vào túi vải, xỏ quai túi qua vai. Ông bước xuống từ bãi, đi men theo bờ đất khô về phía nhà nổi, qua cầu ván bắc ra mé hồ.
Sau lưng ông, đất còn in vết lườn ghe, hai đường dài thẳng, trơ ra dưới nắng.
Chiều, trong nhà, chị Tư Đào hỏi một câu.
"Bán được bao nhiêu?"
"Một trăm tám mươi."
"Còn thiếu?"
"Chín trăm trừ một trăm hai mươi bảy, trừ một trăm tám mươi. Năm trăm chín mươi ba."
"Còn nhiều."
"Còn nhiều nhà chưa góp. Hơn ba chục."
"Hơn ba chục nhà chưa góp."
"Chưa góp, chớ không phải không góp."
"Anh nói phải."
Ông kẻ gạch cuối cột bán đồ. Ông viết một dòng: Bán được: một trăm tám mươi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 41 →