2003 · Chhnok Trou.

Cuối tháng giêng, ông Sarun hẹn ba người ra mảnh đất lúc tám giờ sáng.

Ông Dự tới trước nửa giờ. Ông chèo ghe nhỏ của nhà mình qua mé hồ, buộc dây vào cọc tre, nhảy lên bờ đất. Đất khô, nứt thành mai rùa, màu xám nhạt. Cỏ mọc thưa, vàng, ngang đầu gối. Gió từ hồ thổi qua, mang mùi bùn cá phơi và mùi phân trâu cũ. Xa xa có một hàng cây thốt nốt, năm cây. Dưới gốc cây đầu hàng còn một vũng nước đục sót lại từ mùa mưa, mấy con chuồn chuồn đậu trên cọng cỏ ven vũng. Ở rìa phía hồ, đất thấp dần xuống thành một dải bùn khô, vết chân trâu in sâu.

Ông Bảy Tỉnh tới kế đó, đi bộ từ phía chợ, mũ cối đội lệch. Bác Chea tới sau cùng, một người đàn ông sáu mươi tuổi, da sạm, vai hơi xuôi, mặc áo kẻ sọc và cái sarong cũ cột ngang hông.

"Chào bác Chea," ông Dự nói.

"Chào."

"Bác ăn sáng chưa?"

"Ăn rồi. Cháo cá."

"Dạ. Ông Sarun chưa tới."

"Ông ấy tới trễ. Mười phút, mười lăm phút."

"Bác biết ông ấy lâu chưa?"

"Từ nhỏ. Nhà ông ấy ở cuối bãi."

"Ông Bảy, mình đo trước nghe."

"Đo đi," ông Bảy Tỉnh nói. "Anh bước, tui đếm."

"Không. Tôi bước, tôi tự đếm. Ông ghi."

"Ghi trong đâu?"

"Sổ này."

Ông Dự đưa cuốn sổ bìa xanh cho ông Bảy Tỉnh, cây bút kẹp giữa trang. Rồi ông đứng ở một góc đất, chỗ có cọc tre ai đó mới cắm, gót chân ép sát cọc, mắt nhìn về cây thốt nốt ở đầu kia. Ông bước. Mỗi bước dài chừng một mét, đều, đếm thành tiếng.

"Một. Hai. Ba..."

Đất nứt dưới dép từng nhịp. Ông Bảy Tỉnh đi theo sau, tay cầm sổ. Bác Chea đi theo bên cạnh ông Dự, không nói, hai tay chắp sau lưng, ngước nhìn mây.

"...Tám mươi chín. Chín mươi."

Ông Dự dừng. Trước mặt ông là cái cọc thứ hai.

"Chín mươi," ông nói với ông Bảy Tỉnh.

"Ghi rồi."

"Giờ cạnh kia."

Ông rẽ vuông góc. Bước tiếp. Cỏ vàng quất vào gấu quần. Có một con bò chăn thả ở xa, lông đen, đứng gặm, đuôi phe phẩy.

"Bảy mươi lăm."

"Ghi."

"Chín mươi nhân bảy mươi lăm."

"Anh nhẩm được không?"

"Sáu ngàn bảy trăm rưỡi."

"Đơn vị gì?"

"Bước vuông."

Bác Chea khẽ cười, không thành tiếng, mắt nheo lại.

Ông Sarun tới khi nắng lên hơn sào, ngồi trên chiếc xe máy cũ, mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần dài, đeo kính râm. Ông ngoài bốn mươi, mặt tròn, cổ ngắn, tóc chải ngược bóng mỡ. Ông dựng xe, tháo kính, gấp vào túi áo.

"Xin lỗi tới trễ."

"Không sao ông," ông Bảy Tỉnh nói.

"Mấy ông đo xong chưa?"

"Chín mươi và bảy mươi lăm."

"Đúng. Tôi biết. Cha tôi đo hồi trước."

"Đất này có ai ở không?" ông Bảy Tỉnh hỏi.

"Không. Mùa mưa nước lên sát mép, mùa khô như này. Tôi cho trâu ăn thôi."

"Giá bao nhiêu ông?" ông Dự hỏi.

"Chín trăm."

"Chín trăm đô?"

"Đô. Tiền riel tôi không lấy."

"Ông bớt được không?" ông Bảy Tỉnh hỏi. "Tụi tôi nghèo."

"Giá là giá."

"Tám trăm rưỡi?"

"Giá là giá, ông Bảy."

"Tám trăm?"

"Tôi nói rồi. Chín trăm."

Ông Bảy Tỉnh nhìn ông Dự. Ông Dự nhìn mảnh đất, nhìn cỏ, nhìn hồ xa ở đầu kia, thấp và sáng.

"Ông còn điều kiện nào không?" ông Dự hỏi.

"Có một."

"Dạ."

"Ai chôn xuống đây, muốn đổ nền hay xây mộ, thì thuê thợ nhà tôi. Giá nhà tôi."

"Giá nhà ông là bao nhiêu?"

"Tôi sẽ tính theo mùa."

"Dạ."

Ông Dự không hỏi thêm. Ông ghi điều đó vào sổ bên cột lề, nét nhỏ.

Ông Sarun đi một vòng quanh cọc, chân giẫm lên cỏ khô, tiếng sột soạt, đôi giày da bóng phủ một lớp bụi xám mỏng sau vài bước. Ông đưa tay chỉ.

"Phía kia mốc cũ của cha tôi. Cọc này mới. Mấy ông muốn đóng thêm cọc thì đóng."

"Dạ."

"Chừng nào mấy ông trả?"

"Đầu tháng ba."

"Trước đó không có giấy."

"Dạ."

"Tôi giữ đất cho mấy ông tới mùng năm tháng ba."

"Dạ cảm ơn."

"Đừng cảm ơn. Mua mà không đủ tiền thì tôi bán người khác."

"Dạ, biết," ông Dự nói.

Ông Sarun leo lên xe máy. Trước khi nổ máy ông quay lại, chỉ tay vào bác Chea.

"Ông Chea."

"Dạ."

"Ông đi cùng à?"

"Tôi đi cùng."

"Ừ. Hẹn gặp."

Tiếng xe nổ lẹt đẹt, khói xanh bay theo gió, rồi nhỏ dần dọc con đường đất.

Ba người đứng lại trên mảnh đất. Ông Bảy Tỉnh lấy mũ xuống quạt, mặt ông đỏ và nhớp mồ hôi. Từ phía hồ có tiếng chim cuốc kêu, ba hồi, rồi thôi. Bác Chea cúi xuống nhổ một cọng cỏ, vò trong lòng bàn tay, đưa lên mũi ngửi, thả đi. Cỏ vụn bay thành một vệt xám theo gió.

"Chín trăm," ông Bảy Tỉnh nói. "Mình có một trăm hai mươi bảy."

"Một trăm hai mươi bảy," ông Dự nói.

"Còn bảy trăm bảy mươi ba."

"Còn bảy trăm bảy mươi ba."

"Anh Dự."

Giọng bác Chea nhỏ, phía sau vai ông. Ông Dự quay lại. Bác Chea đứng cách nửa bước, tay vẫn chắp sau lưng, mắt nhìn xuống nền đất nứt.

"Dạ bác."

"Tên tôi dùng được."

Ông Dự im.

"Dạ."

"Tên tôi dùng được."

"Bác chắc không?"

"Chắc."

"Cảm ơn bác."

"Không cần."

Ông Bảy Tỉnh nhìn hai người, không hỏi.

Ông Dự mở sổ ngay giữa mảnh đất, kê trên đầu gối, một chân co, một chân duỗi, và viết dòng mới ở cột ghi chú, cây bút bi chạy chậm, nét đứng:

Mua. Chín trăm. Bác Chea đứng tên.

Ông đọc lại một lần. Rồi ông gấp sổ, bỏ vào túi vải, chỗ cái vòng của bà Tư Đơm đang nằm. Gió thổi cỏ khô sột soạt dọc cả mảnh đất, chín mươi bước, bảy mươi lăm bước, thấp và vàng.

Hết Chương 39
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 40 →
← TrướcTiếp →