2003 · Chhnok Trou.
Ông Dự mở cuốn sổ học trò bìa xanh trên sàn nhà ông Bảy Tỉnh, lúc trời mới qua trưa.
Cuốn sổ mua ở chợ trên bờ, một trăm hai chục trang, giấy mỏng thấm mực. Ông viết tựa ngay trang đầu bằng cây bút bi xanh nắp đã mất, bốn chữ: Góp mua đất. Ông kẻ ba cột bằng cây thước nhựa mượn của thằng cháu ông Bảy Tỉnh: tên, số tiền, ngày.
Nhà nổi nằm sát mé hồ, sàn ván chín tấm, ghe nhỏ buộc ở hiên sau. Nước đã rút xuống, thân cột phơi ra ba gang, đen và trơn. Mùa khô tháng giêng, gió từ hồ thổi vào khô và nhẹ, mang mùi cá phơi và mùi khói rơm của nhà bên. Trên sàn có hai mươi mấy người ngồi bó gối, đàn ông ngồi trước, đàn bà ngồi sau, trẻ con ngồi ngoài hiên với dĩa đậu phộng rang.
"Ông Bảy trước," ông Dự nói.
"Ba chục."
"Ba chục đô."
"Ba chục đô. Ghi đi."
"Ghi rồi. Bà Hai Cần."
"Mười lăm. Hồi sáng tôi bán cá khô mới đủ."
"Mười lăm. Chú Tư Hậu."
"Tôi không có tiền mặt anh Dự. Tôi có cái ghe nhỏ, chừng nào bán được thì tôi đưa."
"Ghe nhỏ. Tôi ghi bên cột dưới, chưa tính. Thím Ba Sương."
"Mười đô."
"Anh Năm Tùng."
"Hai chục."
"Ông Tám Quế."
"Mười hai. Mười hai thôi, anh Dự."
"Mười hai là mười hai. Chị Sáu Hiền."
"Tám đô."
"Bà Út Mới."
"Bảy."
"Anh Tư Lẫm."
"Mười."
Ông Dự cộng bằng ngón tay, rồi cộng lại bằng cây bút ở lề giấy, môi mấp máy theo từng con số. Ba chục, mười lăm, mười, hai chục. Bảy mươi lăm. Mười hai, tám, bảy, mười. Ba mươi bảy. Một trăm mười hai.
"Một trăm mười hai," ông nói.
"Chưa tới một phần tám," ông Bảy Tỉnh nói.
"Chưa."
"Ông tính nhanh quá."
"Tôi tính bằng ngón tay từ nhỏ."
Có tiếng cười ngắn, trong góc đàn bà. Ông Dự không cười. Ông chép tên từng người vào cột, nét chữ đứng và tròn, chữ tự học từ hồi nhỏ, tay trái đè mép trang cho khỏi quăn. Còn nhiều hộ chưa kịp tới. Ông ghi họ bên cột dưới: Chưa góp.
Ngoài hiên, bà Hai Cần đi ra ghe lấy thêm nước. Chiếc thuyền độc mộc của ai đó trượt ngang, mái chèo khua nước đều.
"Anh Dự," có tiếng gọi từ cửa.
Cả nhà quay lại.
Bà Tư Đơm đứng ở ngưỡng, hai tay bám gậy tre, lưng còng như cây cung. Bà tám mươi mốt tuổi, mắt đục, tóc bạc cột túm sau gáy, áo bà ba màu nâu đã giặt tới phai. Chị Sáu Hiền đứng dậy đỡ khuỷu tay bà, dắt bà vào, đặt bà ngồi xuống cạnh ông Dự.
"Bà Tư. Bà không cần xuống đây."
"Tôi tới góp."
"Dạ. Bà góp bao nhiêu?"
"Tôi không có tiền."
"Dạ, không sao."
"Tôi có cái này."
Bà thò tay vào túi áo. Cái túi sâu, bà lần mãi mới lôi ra một cục vải đỏ cột thắt nút. Bà tháo nút bằng mấy ngón tay run. Trong vải có một cái vòng bạc đen, trơn, mỏng, mép tròn đều như bị mòn qua nhiều năm. Bà đặt nó lên lòng bàn tay ông Dự.
"Của tôi góp."
Ông Dự cầm nó. Nó nhẹ hơn ông tưởng, nhưng không nhẹ như vật làm bằng thiếc. Cả nhà im.
"Bà bắt ở đâu?"
"Trong lưới của tôi. Năm ngoái, lúc nước rút."
"Lưới nào?"
"Cái lưới tôi hay thả ở cửa lạch. Hôm đó nước rút sớm, tôi kéo lưới, thấy nặng. Tôi tưởng cá lóc. Ra ba con cá trê, với cái vòng mắc trong mắt lưới."
"Ba con cá trê."
"Ba con. Tôi nấu canh chua."
"Dạ."
"Tôi để cái vòng dưới gối một năm. Ngủ hơi nặng."
Có tiếng cười thấp trong phòng, lần này nhiều hơn. Ông Bảy Tỉnh ho khan để che.
"Bà có chắc muốn góp không?" ông Dự hỏi.
"Tôi tám mươi mốt."
"Dạ."
"Tôi không đeo nó. Tôi không bán nó. Tôi không biết ai làm nó. Tôi góp."
"Dạ. Tôi ghi."
"Ghi gì?"
"Ghi bà Tư Đơm, một vòng bạc."
"Ghi vậy cũng được."
Ông Dự lật cuốn sổ sang cột dưới, nơi ông ghi đồ chưa tính: Chú Tư Hậu. Ghe nhỏ. Rồi ông viết dòng nữa dưới đó, chữ nhỏ lại cho vừa chỗ: Bà Tư Đơm. Một vòng bạc. Ông bỏ cái vòng vào túi vải đựng sổ, túi may bằng vải bố, miệng thắt dây.
"Bà ăn gì chưa?" chị Sáu Hiền hỏi.
"Tôi ăn rồi."
"Ăn gì?"
"Cơm với mắm."
"Chị Tư Đào không nấu cho bà à?"
"Tôi tự nấu. Chị Tư Đào bận vá lưới."
Chiều xuống chậm. Họ ngồi tới khi ánh nắng nghiêng qua cửa sổ, đổ lên sàn một mảng vàng dài, bụi bay lờ lững. Ông Bảy Tỉnh chia trà. Có người rút ra thêm vài tờ năm đô, vo tròn như giấy bỏ, đặt vào tay ông Dự. Ông Dự mở từng tờ, vuốt phẳng, ghi từng tên. Chiều tới giờ, thêm ba hộ, mỗi hộ năm đô, hai hộ bằng ngày công đào và khiêng sau này, một hộ hứa góp sau mùa cá.
Tối, ông Dự chèo ghe về nhà nổi của mình, cách nhà ông Bảy Tỉnh mười một nhà, chèo chừng mười lăm phút, mang theo cuốn sổ và cái túi vải. Đèn của các nhà nổi lần lượt bật sáng sau lưng ông, từng chấm vàng nhỏ trên mặt hồ đen, mùi khói rơm và mùi cá nướng trôi theo gió. Chị Tư Đào đã nấu cơm, bày hai chén, một dĩa cá kho, một tô canh. Ông ăn hết, rồi kéo cây đèn dầu lại gần, mở sổ ra cộng một lần nữa.
Một trăm hai mươi bảy đô.
Ông đọc lại cột tên từ đầu đến cuối, ngón tay chạm vào từng dòng. Rồi ông viết ở lề, nét nhỏ:
Cần chín trăm.
Ông gạch dưới hai lần.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 39 →