1958 · Chaktomuk.
Hai tuần ấy, ông Thục làm lại việc cũ.
Ông bỏ chồng giấy nháp vào một cái hộp tre đặt dưới gầm giường, trả hai bộ tự điển cho ông Ký Lân bằng cách gửi qua người chạy việc, rồi ngồi vào bàn với ba đơn gia phả đang chờ. Ông nhận đơn nhà họ Phan trước, vì nhà ấy hẹn đã lâu. Ông chà mực, kẻ ô, chép một trang hai trăm chữ mỗi ngày. Ông chép đúng hạn. Chữ ông đều, nét ông vững. Nhà họ Phan trả bốn lon gạo cho hai trang, ông nhận, đong, đổ vào hũ. Hũ sành đầy được một phần ba. Trong mười bốn ngày ông chép mười ba trang, thiếu một trang vì có hôm nét bút lệch ở chữ thứ một trăm bảy mươi mốt, ông bỏ cả tờ. Ông đếm trang như đếm bậc thang: xong một bậc, nhìn bậc kế.
Mỗi sáng, trước khi chà mực, ông xỏ giày ra đầu phố. Từ chỗ ông đứng nhìn qua ba dãy nhà thấy được ngã tư gần chợ, nơi có cái hàng sách cũ mái tôn. Ông không đi tới đó. Ông chỉ đứng, nhìn, rồi quay về.
Chiều thứ năm tuần thứ hai, ông Lý Mộc phải về. Ông Thục đợi hết chiều ấy. Sáng thứ sáu, ngày thứ mười lăm kể từ hôm ông Lý Mộc xuống ghe, ông cài khuy áo, cầm cây dù, và đi tới hàng sách.
Cửa hàng đóng.
Không phải đóng như đóng buổi trưa, mà đóng như đóng cả mùa. Con đường trước hàng vắng hơn mọi ngày, chỉ có một vệt nước đọng dài theo mép cống và mấy cánh chuồn chuồn đậu trên thanh xích. Các tấm ván cửa trước, vốn tháo ra mỗi sáng làm quầy, nay đã lắp lại kín từ trên xuống dưới, khóa ngoài, thêm một sợi xích sắt xỏ qua hai cái vòng đồng. Bụi đọng trên mép ván. Một tờ giấy đỏ quảng cáo thuốc dán chéo lên cánh cửa, góc dưới bắt đầu bong.
Ông Thục đứng trước cửa. Ông không gõ. Ông đếm ván. Bảy tấm, từ trái sang phải, tấm nào cũng có một số nhỏ viết bằng phấn ở góc trên, từ một đến bảy, chữ viết của người đóng ván để khỏi lắp lộn.
"Ông tìm ông Lý Mộc hả?"
Một bà bán bánh bò đang đặt mẹt bánh trên cái ghế đẩu bên hàng bên cạnh, đầu quấn khăn trắng, tay lau vào tạp dề. Hình như bà đã nhìn ông từ trước.
"Phải. Bà biết ông ấy đi đâu?"
"Ổng đi hôm thứ năm cách đây hai tuần. Xách cái túi xanh. Ổng nhờ tôi coi cửa."
"Coi cửa?"
"Tôi có chìa. Nhưng ổng bảo cứ đóng, đừng mở."
"Ông ấy nói mấy hôm về?"
"Ổng nói hai tuần."
"Vậy hôm nay ông ấy phải về rồi."
"Tôi cũng tưởng vậy." Bà bán bánh nhìn lên con đường vắng. "Nhưng chưa thấy."
"Ông ấy đi đâu?"
"Bên Chợ Lớn chắc. Ổng đi hoài, một năm đôi ba lần."
"Bà có biết địa chỉ?"
"Không."
"Ông ấy có để lại thư hay lời nhắn nào không?"
"Không có."
"Bà có biết ông ấy ở nhà ai bên đó?"
"Bà con. Ổng nói bà con. Tên thì tôi không biết."
Ông Thục gật. Ông nhìn xuống chân, ở bậc thềm hàng sách, có một cái chén sành đựng cơm và cá. Cái chén sạch, ăn hết.
"Mèo của ông ấy?"
"Tôi cho ăn. Ổng nhờ. Ổng dặn thêm: cho đến khi ổng về."
"Vậy chắc ông ấy sẽ về."
"Chắc vậy." Bà bán bánh vươn tay, đặt lên mẹt thêm hai cái bánh bò mới ra khỏi khuôn. "Nhưng ông ấy hứa hai tuần mà chưa thấy. Ông có việc gấp không?"
"Tôi có gửi một món đồ."
"Đồ gì?"
"Một cái hộp nhỏ."
"Chà." Bà lắc đầu nhẹ. "Ông gửi thì ông chờ. Ghe bên đó hay chậm. Hồi trước ổng cũng đi, tưởng hai tuần, hóa ra ba."
"Bà nói đúng."
"Tôi nói thật. Ông có muốn bánh không? Bánh còn nóng."
"Cảm ơn bà, tôi không đói."
"Vậy ông chờ thêm. Tôi sẽ nói ổng khi ổng về: có ông Thục tìm."
"Cảm ơn bà."
Một người đàn ông mặc áo thun trắng, từ hàng tạp hóa đối diện, bước sang, chắc đã nghe loáng thoáng.
"Có chuyện gì vậy bà Sáu?"
"Ông này tìm ông Lý Mộc."
"Ổng chưa về," người đàn ông nói với ông Thục. "Hai tuần là ít. Hồi tháng ba ổng đi tới năm tuần."
"Ông ấy nói hai tuần."
"Người đi buôn mà. Nói hai tuần là nói cho khách yên lòng."
"Tôi không phải khách."
"Vậy ông là gì của ổng?"
"Người quen."
"Người quen thì chờ," người đàn ông nói, giọng hết sức bình thường, rồi quay về hàng của mình.
Ông Thục cúi chào cả hai người.
Ông đi bộ về, không đếm bước.
Về đến nhà, ông cởi giày, cất dù vào góc, rồi ngồi xuống bàn viết. Nghiên mực khô, vì sáng nay ông chưa chà. Ông không chà. Ông cầm bút sắt lên, đầu ngòi sạch, ông nhìn nó, rồi nhìn xuống trang giấy kẻ ô, trắng, bảy hàng dọc. Trang họ Phan, trang thứ mười bốn. Ông muốn chép tên đầu tiên, và không chép được.
Ông mở hộc bàn, nơi cái hộp mực gỗ sơn đen vẫn nằm những đêm không dùng đến. Trong hộc còn một xấp thư của con gái, hai thỏi mực tàu, cây thước, cái kẹp giấy bằng tre. Chỗ cái hộp từng nằm là một vệt vuông sạch hơn mặt gỗ xung quanh. Ông biết hộp không còn ở đó. Ông kéo hộc ra hẳn, cúi nhìn vào phần sâu nhất, và nó trống, đúng như ông biết.
Không còn bản rập. Không còn tờ nháp chì mười bốn nét, mười một nét. Không còn cái vòng. Không còn gì ngoài những hình trong đầu, và những hình ấy, ông biết, sẽ mờ nhanh hơn nét khắc.
Dưới gầm giường, trong hộp tre, vẫn còn chồng giấy nháp dày ba tấc, hàng trăm tờ ghi số nét, tên bộ, chữ loại. Chồng giấy ấy ghi những nơi không có chữ. Còn chữ thì đã đi.
Ông đặt bút xuống nghiên. Ngòi chạm đá khô, kêu một tiếng nhỏ.
Ngoài cửa sổ, ánh nắng chiều đã xiên. Trên mặt bàn, trang giấy vẫn trắng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 28 →