1958 · Chaktomuk.
Hai tuần liền, ông Thục lật hai bộ tự điển.
Ông làm việc có thứ tự, như làm một bản kê khai. Mỗi sáng ông kẻ một tờ giấy nháp thành ba cột: bộ thủ, số nét còn lại, kết quả. Ông chọn một bộ, tra hết các chữ thuộc bộ ấy, so từng chữ với hình thứ nhất, chữ nào có số nét gần thì chép ra để đối chiếu từng nét. Nếu không khớp, ông gạch một đường ngang qua tên bộ và viết chữ loại vào cột cuối. Hết tờ này ông lấy tờ khác. Tờ nháp chất bên bàn thành một chồng dày ba tấc, mép giấy quăn vì tay ẩm. Ông đếm ngày bằng bộ thủ: mười một bộ một ngày, có hôm mười bốn, có hôm chỉ năm vì một bộ chữ nhiều đến bốn mươi trang.
Có một lần, ở ngày thứ chín, ông tưởng đã gặp. Trong một trang của bộ Khang Hy có một chữ mười bốn nét, ba nét đầu khớp hình thứ nhất đến từng độ nghiêng, nét thứ tư cũng khớp. Ông đặt bút chì xuống, đứng dậy đi quanh phòng, rồi ngồi lại. Nét thứ năm lệch. Chữ ấy có một nét sổ ở nơi hình trên vòng có một nét phẩy. Ông gạch tên bộ, viết loại, và ngủ muộn hơn mọi đêm.
Ngày thứ mười bốn, ông đã loại một trăm bốn mươi bảy bộ. Còn sáu mươi bảy bộ chưa tra. Ông ghi số ấy ở góc tờ cuối. Ông không ghi thêm gì.
Ba đơn khác, nhà họ Phan, họ Đoàn, họ Trần, nằm xếp trong hộc bàn, tờ nào cũng có ngày hẹn ghi bên lề bằng bút chì đỏ. Hai ngày hẹn đã qua. Ông mở hộc mỗi sáng để lấy giấy nháp, nhìn thấy các tờ ấy, rồi đóng hộc lại.
Trong hai tuần ấy, trang gia phả họ Lâm nằm bỏ dở ở đời thứ sáu. Ông đã chép đời thứ năm xong, chín tên, đúng hạn, nhưng đến đời thứ sáu thì tay ông không theo nổi ý. Đời thứ sáu có mười hai tên, mới sinh còn nhiều, ngày giờ ghi lộn xộn trên mảnh giấy ông Tín đưa. Ông chép được bốn tên rồi để đó. Bốn tên ấy nằm trên trang trắng, mực đã khô từ nhiều hôm.
Cuối tháng chín, một buổi sáng, ông Tín đến.
"Thưa ông Thục."
"Mời ông vào."
Ông Tín không ngồi. Ông đứng cạnh bàn, chiếc mũ cầm trên tay, nhìn chồng giấy nháp chất cao bên cạnh chồng giấy gia phả mỏng.
"Đã hai tuần, ông Thục."
"Tôi biết."
"Tôi có hẹn: đời thứ sáu xong sau mười ngày kể từ lúc chép xong đời thứ năm. Hôm nay là ngày thứ mười sáu."
"Tôi xin lỗi ông."
"Ông chép được mấy tên?"
"Bốn."
"Bốn trên mười hai."
"Phải."
"Anh tôi ở Kampot đang chờ sổ để lập bàn thờ. Giỗ cụ năm nay họ muốn đọc gia phả trước tổ."
"Tôi hiểu."
"Ông hiểu mà ông chưa làm."
"Phải."
"Thằng Nghị kể với tôi ông đang rập chữ trên một món đồ cũ. Ông bỏ việc nhà tôi vì món ấy?"
"Tôi không bỏ."
"Vậy ông gọi là gì?"
"Tôi gọi là chậm."
Ông Thục đặt tay lên mép bàn. Tay ông run hơn mọi sáng.
"Xin ông cho tôi thêm bảy hôm. Bảy hôm là xong đời thứ sáu."
"Bảy hôm."
"Bảy hôm."
"Ông nói bảy hôm lần trước cũng vậy."
"Lần trước tôi nói mười."
"Mười hay bảy cũng thế." Ông Tín thở dài, bước đến, cầm lấy tập trang gia phả nhà họ Lâm, tập bìa giấy dày mà ông Thục đã bọc thêm lớp vải, lật tới trang có bốn tên rồi lật ngược lại trang bìa. "Tôi không muốn làm khó ông. Ông là người chép chữ giỏi nhất khu này. Cha tôi từng nói vậy."
"Ông quá lời."
"Nhưng việc nhà tôi không đợi được. Tôi sẽ nhờ người khác làm đời thứ sáu."
"Xin ông cân nhắc."
"Tôi cân nhắc rồi." Ông Tín gập tập trang gia phả vào ngực. "Nửa bao gạo ông nhận trả trước, ông giữ. Coi như công đời thứ năm. Tôi không đòi lại."
"Như vậy không đúng lẽ. Công đời thứ năm tôi tính nửa lon một tên."
"Ông tính thì ông tính. Tôi cho thêm."
"Tôi không nhận phần cho thêm."
"Ông Thục, ông ráng nhận. Đây không phải lòng thương hại. Coi như tôi trả công cho nét chữ."
Ông Thục im lặng. Rồi ông cúi đầu một cái, rất khẽ.
"Vậy tôi nhận."
"Chào ông."
"Chào ông."
Ông Tín đi khỏi. Cái ghế nơi ông vừa đứng còn lệch một góc. Ông Thục ngồi nhìn chỗ bàn trống, nơi hai tuần nay tập trang gia phả đặt. Trên mặt bàn gỗ còn một vết vuông phẳng, nhạt hơn xung quanh.
Chiều, ông mở nắp hũ sành, đong gạo ra lon, từng lon, đặt xuống sàn. Ba lon, và đáy hũ đã thấy. Đầu tháng hũ còn đầy quá nửa. Từ nửa bao gạo của ông Tín không có gạo nào vào nữa, chỉ có gạo đi, mỗi ngày một lon, một lon cho hai bữa nguội. Ba lon là ba ngày, nếu ông không đổi ý về bữa tối.
Ông đổ lại ba lon vào hũ, đậy nắp. Ông ngồi xuống bàn, rút từ hộc tờ thư mới của con gái, đến từ hôm qua. Chữ vẫn nghiêng, nét vẫn thanh.
Ba nghỉ đi.
Chỉ có ba chữ, và dưới đó là tên con. Ông đọc xong thì nhìn sang chồng giấy nháp.
Ông kéo giấy, nhúng bút sắt vào mực. Ông viết thư hồi âm, ba dòng:
Ba vẫn khỏe. Mưa năm nay nhiều, đường lầy. Con giữ gìn các cháu.
Ông đọc lại. Ông không viết thêm về cái vòng, cái bản rập, hai bộ tự điển mượn, hay sáu mươi bảy bộ thủ chưa tra. Ông gấp thư, dán mép, đề địa chỉ bằng nét chữ nắn nót, rồi đặt lên góc bàn, đè bằng cái chặn giấy bằng đá.
Ngoài kia mưa rơi lại, mưa thưa, trên mái ngói. Trên bàn, tờ nháp mới đã kẻ xong ba cột, ô tên bộ còn để trống.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 26 →