1958 · Chaktomuk.
Mấy hôm sau, trời tạnh buổi sáng, ông Thục sang nhà ông Ký Lân.
Ông Ký Lân sống ở một căn nhà ngói hai gian, cách chỗ ông Thục ba dãy phố, mái thấp, cửa sổ nhỏ, bên trong sách chất từ nền lên tới xà nhà. Sách chữ Nho bìa vải xanh, sách quốc ngữ bìa giấy, sổ sách cũ của sở buộc dây gai thành từng chồng, tất cả ngả màu như lá trà. Mùi giấy mốc, mùi hương trầm đốt dở, mùi trà đậm trộn với nhau, nặng đến mức khách mới vào cảm thấy như bước vào một cái hộp kín.
Ông Ký Lân bảy mươi tuổi, tóc bạc cắt cua, mặc áo bà ba lụa cũ, mắt hơi lé bên phải. Ông ngồi trên ghế mây trước bàn trà, hai chân gác lên một chồng sổ.
"Ông Thục! Ông đến không báo trước, tôi chưa kịp sửa soạn trà."
"Tôi không cần trà."
"Ông không cần, tôi cần. Ngồi đi."
Ông Thục ngồi. Ông Ký Lân rót hai chén trà đặc, đẩy một chén sang. Họ uống. Ngoài cửa sổ, nước nhỏ từ mái hiên xuống từng giọt, nhịp đều.
"Ông biết tin ông Phán Hòe chưa?"
"Chưa."
"Mất hồi tháng trước. Đau ruột. Không ai báo ông à?"
"Không ai báo."
"Cũng phải. Từ hồi chúng ta về hưu, thư từ ít hẳn. Ông Cả Quý cũng đi rồi, ông nhớ không? Năm kia."
"Tôi nhớ. Tôi có đi đưa."
"Ông đi đưa. Tôi lại không đi được, tôi mắc bệnh tê chân." Ông Ký Lân thở ra. "Cùng sở bốn mươi năm, bây giờ đếm đi đếm lại chỉ còn hai ông già."
"Còn ông Thập ở bên kia sông."
"Ông Thập điếc, nói chuyện như nói với cái tủ."
Ông Thục bật cười, tiếng cười ngắn. Ông đặt chén xuống, thò tay vào túi áo, lấy ra hai thứ bọc chung trong một miếng khăn: dải giấy rập và cái vòng. Ông mở khăn, trải ra mặt bàn.
"Hôm nay tôi đến vì việc này."
Ông Ký Lân nhìn xuống. Nụ cười trên mặt ông tắt, rồi trở lại, nhẹ hơn.
"Cái gì đây?"
"Một cái vòng bạc. Tôi mua của hàng đồng nát. Trên đó có khắc ba hình, tôi đã rập lại. Đây là bản rập."
Ông Ký Lân cầm dải giấy lên, đưa gần cửa sổ, rồi lấy từ ngăn bàn một cái kính lúp to bằng lòng bàn tay. Ông xem lâu. Rất lâu. Chén trà của ông nguội đi, ông không động tới.
"Ông Ký."
"Ừ."
"Ông xem giùm tôi, chữ này là chữ gì."
Ông Ký Lân hạ kính xuống, nhìn ông Thục bằng con mắt không lé, rồi phá lên cười, tiếng cười rền và dài, làm rung cả chồng sổ dưới chân.
"Chữ gì mà chữ!"
"Ông cười cái gì?"
"Tôi cười vì ông. Ông chép lời khai cả đời, ông biết rõ nhất: chữ nào cũng ngồi trong một bộ. Cái này, tôi chưa thấy bộ nào nhận nó."
"Nét nó giống nét triện."
"Triện thì có bộ. Triện lai thì có bộ. Ông thử tìm cho tôi một bộ trong ba hình này."
"Tôi đã tra hai chục bộ."
"Hai chục chưa đủ. Có hai trăm mười bốn bộ."
"Tôi biết có hai trăm mười bốn bộ."
"Vậy ông còn hai trăm mười bốn trừ hai chục để tra."
"Ông Ký, tôi không nhờ ông đùa."
"Tôi không đùa. Tôi nói thật." Ông Ký Lân nghiêm lại, nhấc cái vòng lên bằng hai ngón, xoay xoay. "Tôi nói là: cái này không phải chữ Nho. Không phải chữ Nôm. Không phải triện, không phải lệ, không phải khải. Ông thấy cái chấm lớn nghiêng ở hình thứ nhất không?"
"Thấy."
"Chữ Nho không ai đặt chấm ở chỗ ấy."
"Có người đặt, ở lối triện cổ."
"Triện cổ thì chấm ấy thành vòng, không thành chấm."
"Nét nó giống nét triện lai."
"Ông thấy giống. Tôi nói không phải. Hai ông già, hai ý, cãi nhau cả buổi cũng không ra." Ông Ký Lân đặt vòng xuống, nhẹ như đặt cái chén. "Tôi chỉ nói được một điều: không phải. Còn là gì thì tôi không biết."
"Ông không đoán?"
"Ông muốn tôi đoán?"
"Không."
"Vậy thôi."
Hai ông ngồi im. Tiếng nước nhỏ giọt từ mái hiên vẫn đều, chậm hơn lúc nãy. Rồi ông Ký Lân đứng lên, chống tay vào lưng ghế, bước đến kệ sách sau lưng, lục khá lâu, rút ra hai bộ dày bìa vải màu nâu, đặt xuống bàn trà, bụi bay lên thành đám nhỏ.
"Hai bộ này ông mượn."
"Đây là..."
"Bộ Khang Hy và bộ Từ Nguyên, bản cũ. Ông có bộ nào hơn hai bộ này không?"
"Tôi chỉ có bộ nhỏ."
"Bộ nhỏ chỉ đủ cho tờ khai. Cái này cần bộ lớn." Ông Ký Lân ngồi xuống, thở. "Mượn đến hết tuần trăng. Trả cho tôi đúng hạn."
"Tôi sẽ trả."
"Còn nữa."
"Gì nữa?"
"Ba đơn gia phả ông đã nhận mà chưa làm. Nhà họ Phan, nhà họ Đoàn, nhà họ Trần. Họ hỏi tôi đã ba lần: ông Thục sao lâu thế."
"Tôi đã nhận thì tôi làm."
"Khi nào?"
"Sau tuần trăng."
"Ông nói sau tuần trăng, mà tuần trăng ông dành cho tra chữ."
"Phải."
Ông Ký Lân nhìn ông Thục lâu, con mắt lé của ông hơi nheo lại.
"Ông Thục này."
"Gì?"
"Tôi biết ông. Tôi biết bốn mươi năm. Lúc nào ông chăm chú vào một thứ không phải việc của ông, là lúc ông bắt đầu quên việc của ông."
"Tôi sẽ không quên."
"Ông hứa?"
"Tôi nói sẽ làm."
"Vậy được."
Ông Thục đứng dậy, cúi chào. Ông gói lại cái vòng và tờ rập trong khăn, nhét vào ngực áo, ôm hai bộ sách vào lòng. Bìa vải nặng như hai tấm ván, mỗi bộ ngót ba cân, kéo vai ông chùng xuống.
Ra khỏi cửa, mưa lại rơi, mưa mịn, chưa đủ ướt áo, chỉ đủ phủ lên sách một lớp hơi lạnh. Ông ôm sách che trước ngực, cúi người, đi chậm trên con đường lát gạch trơn, về hướng nhà. Ông đã đếm sơ trong đầu: hai bộ ấy cộng lại hơn bốn nghìn trang. Ông sẽ lật từng trang một.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 25 →