1958 · Chaktomuk.

Một tuần sau, trong đêm mưa, ông Thục thắp đèn.

Đó là cái đèn dầu ông giữ từ hồi còn đi làm sở, thân đồng, bấc dẹt, chao thủy tinh xanh lục đã ngả màu rêu ở phần cổ. Ông ít khi thắp, vì dầu đắt và vì ánh sáng của nó không hợp với việc chép. Chao xanh nhuộm cả mặt bàn thành màu nước ao, tay ông, giấy ông, mực ông, đều bớt trắng bớt đen đi. Nhưng có một việc mà chỉ đèn ấy làm được: nó đứng yên. Ngọn lửa trong chao không lay, và ánh sáng nó rọi ra rất đều, từ một phía.

Ông vặn bấc cao thêm hai nấc. Ông đeo kính lão gọng đồng, kéo ghế sát bàn, đặt cái vòng lên khăn lụa gấp tư. Bên cạnh vòng, ông để cái kính lúp cán xương, tờ rập phơi khô, cây bút chì, và một tờ giấy nháp trắng.

Ông cầm vòng lên, hai ngón giữ hai mép. Không đưa thẳng vào ánh đèn, ông nghiêng nó. Ông biết nét khắc ở mặt ngoài đã lõm rất nông, ánh sáng đi thẳng vào thì nó trôi qua như nước qua đá phẳng. Muốn thấy nét, phải cho ánh sáng đi xiên, để một thành của vết khắc sáng lên còn thành bên kia đổ bóng. Ông xoay vòng, xoay chậm, từng độ, cho tới khi vệt sáng từ chao rơi trượt qua mặt ngoài như tay người lướt trên mặt trống.

Hình thứ nhất hiện ra.

Bóng đổ đầy vào lòng nét, và cái từng là những vệt mờ lẫn trong một màu đen xỉn bỗng dựng lên từng nét một, nét nào ra nét nấy. Một chấm lớn, nghiêng. Một nét ngang, gãy ở giữa. Một sổ dài, cuối sổ có móc. Một phẩy, rồi lại một phẩy. Ông đặt vòng xuống, cầm bút chì chép những nét ấy lên giấy nháp, theo thứ tự ông thấy, theo thói quen nhà chữ: chấm, ngang, sổ móc, phẩy, phẩy. Rồi ông nâng vòng lên, tìm nét kế tiếp.

Ông mất hơn nửa canh giờ cho hình thứ nhất. Mười bốn nét, đúng như bản rập. Giống chữ. Có trên dưới, có trong ngoài, có nét chủ và nét phụ như một chữ do người biết viết đặt ra. Nhưng trong chữ ấy không có cái bộ nào ông từng nhận ra, không phải bộ thủy, không phải bộ mộc, không phải bộ khẩu, không phải bộ nào ông tra hôm trước.

Hình thứ hai đến với ông nhanh hơn. Mười một nét, ánh đèn xiên bắt được từng nét như mũi kim bắt sợi chỉ. Ông chép. Ông dùng kính lúp để soi những chỗ nét chồng lên nhau, và ở một chỗ, ông thấy nét bị mòn cụt ở đầu. Ông ghi chú nhỏ bên lề: mòn.

Hình thứ ba thì không còn nét.

Ông xoay vòng ngược xuôi, nâng ngọn đèn lên, hạ đèn xuống, đổi hướng nhìn từ trái sang phải. Chỉ còn một vệt, hơi cong, cạn như vết móng tay in lên đất sét, biến mất mỗi khi ông chớp mắt. Ông cố gọi tên nó: một phẩy? một nét cong? Ông không gọi được. Ông đành chép vào giấy nháp một đường cong ngắn, và bên cạnh viết chữ vệt.

Ông thả lưng ra ghế. Mắt ông cay vì khói dầu.

Có tiếng gõ cửa.

"Ông Thục ơi."

"Bà Huề?"

"Tôi đây."

Ông mở cửa. Bà chủ nhà đứng ngoài hành lang, áo ngủ vải bông, tóc quấn khăn, một tay cầm cây đèn con có cái chao giấy dầu, tay kia chống hông. Phía sau bà, cầu thang gỗ tối om.

"Gần nửa đêm rồi, ông."

"Tôi biết."

"Ông thắp đèn chao từ lúc đầu hôm. Tiền dầu tháng này của ông nhiều gấp rưỡi tháng trước."

"Tôi sẽ trả đủ."

"Tôi không sợ ông không trả. Tôi sợ ông hư mắt."

"Mắt tôi hư từ lâu rồi, bà Huề."

"Vậy càng nên tắt đèn đi ngủ." Bà liếc vào trong. "Ông làm gì mà soi lắm vậy?"

"Một món đồ cũ."

"Món đồ cũ mà phải soi bằng đèn tốt?"

"Món đồ cũ có chữ."

"Mua bao nhiêu?"

"Hai lon gạo."

"Hai lon gạo mà ông đốt dầu hết ba lon. Ông tính sổ kiểu gì vậy?"

"Tôi không tính sổ."

"Ông chép gia phả cho thiên hạ, tính sổ từng đời từng tên, mà không tính sổ cho chính mình."

"Chữ tôi chép là của người khác. Sổ này là của tôi."

"Sổ của ông có cái gì mà thức trắng?"

"Mấy nét khắc tôi chưa đọc ra."

Bà Huề im một nhịp. Rồi bà bật cười nho nhỏ, như người không muốn cười mà không nhịn được.

"Người đọc chữ cả đời, bây giờ có chữ đọc không ra. Chuyện này đem ra chợ kể chắc người ta không tin."

"Bà đừng kể."

"Tôi không kể. Nhưng đèn thì ông tắt đi. Mai ông soi tiếp."

"Mai tôi đổi sang đèn thường."

"Đèn thường tối quá, ông bảo tôi hồi tuần trước."

"Phải, tối quá."

"Ông ăn tối chưa?"

"Rồi."

"Cơm nguội với cá khô, tôi biết. Mùi bay lên tận bếp tôi."

"Bà đoán đúng."

"Hai chục năm ở nhà này, tôi đoán sai bữa ông lần nào chưa?"

"Chưa lần nào."

"Thì tắt đi mà ngủ. Chữ nào ngủ dậy cũng còn đó, ông ạ. Chữ không chạy."

Ông Thục gật.

"Bà nói phải. Tôi tắt ngay."

"Chúc ông ngủ ngon."

"Chúc bà."

Bà Huề xoay người, lách cách xuống cầu thang, cây đèn con của bà nhỏ dần và nhảy từng bậc trên vách gỗ.

Ông đóng cửa. Ông đứng trước bàn, nhìn cái đèn chao xanh, nhìn cái vòng nằm giữa khăn, nhìn tờ giấy nháp có mười bốn nét, mười một nét, và một đường cong ngắn. Ông ghi thêm ở cuối tờ, bằng chữ nhỏ, một câu duy nhất: Hai chữ đủ nét, chữ thứ ba còn một vệt. Ông không viết thêm gì. Ông chưa đoán nghĩa. Ông cũng không muốn đoán.

Ông gói vòng vào lụa, đặt vào hộp mực. Ông vặn nhỏ bấc rồi thổi.

Bóng tối ập xuống, và mắt ông, quen với ánh xanh, trong mấy nhịp thở không thấy gì. Nhưng chữ vẫn còn đó. Chấm nghiêng, ngang gãy, sổ móc, phẩy, phẩy. Chúng hiện ra trong bóng tối sau mi mắt, trắng và rõ, như vừa được khắc.

Hết Chương 23
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 24 →
← TrướcTiếp →