1958 · Chaktomuk.
Hai tuần sau, ông Thục đi chợ bến để mua mực và giấy.
Chợ họp từ năm giờ sáng, dọc theo bờ sông, trên nền đất vừa qua một trận mưa nên còn lổn nhổn những vũng nước đục. Mùi cá ươn, mùi dầu chiên, mùi rau thơm giập dưới gót guốc, tiếng người rao bằng ba thứ tiếng chen nhau từ bốn phía. Ông đi sát mép chợ, tay ôm một gói khăn nhỏ đựng chừng sáu lon gạo, đem theo để đổi hàng, vì công chép của ông vốn được trả bằng gạo.
Tiệm giấy ông Hứa nằm ở đầu dãy, chật như cái tủ. Ông Hứa ngồi sau quầy, tay áo xắn cao, cặp kính trễ xuống mũi.
"Chào ông Thục. Hôm nay lấy gì?"
"Mực tàu còn loại cũ không?"
"Còn sáu thỏi, mực cũ trước kia, ông xem."
"Tôi lấy ba thỏi. Thêm mười tờ giấy bản."
"Gạo đổi được. Ba thỏi mực, mười tờ giấy, ba lon."
"Hai lon rưỡi."
"Ông Thục, giấy bản năm nay lên giá."
"Giấy năm nay mỏng hơn năm ngoái."
Ông Hứa bật cười, đưa cái lon sữa bò đã gõ lõm đáy. Ông Thục đong gạo từ khăn, đong ba lần, mỗi lần dùng ngón tay gạt phẳng miệng lon, đúng hai lon rưỡi. Ông Hứa không cãi nữa, quấn mực vào giấy dầu, đếm giấy ra từng tờ. Ông Thục nhận gói, cúi chào, quay ra.
Đi ngang dãy đồng nát, ông chậm bước. Ông không có việc ở đây. Bình thường ông đi thẳng. Hôm nay mưa hôm qua làm các sạp phải bày hàng trên tấm bạt ướt, và dưới nắng mới lên, những thứ vụn vặt trên bạt hiện rõ hơn mọi ngày: đinh sắt xếp từng nắm, mảnh lưới đồng, nắp đồng hồ, cái bản lề gỉ, cái chốt khóa, cái chuông xe đạp méo. Mùi gỉ sắt hăng như mùi máu khô, bám vào vạt áo ông cả khi đã đi qua.
"Ông Thục! Ông Thục ơi!"
Bà Tám chủ sạp ngồi xổm giữa đống đồ, quấn khăn rằn quanh đầu, hai tay đen đến cổ tay vì sắt rỉ. Bên cạnh bà có một đứa nhỏ chừng mười tuổi, đang xếp đinh theo cỡ.
"Chào bà Tám."
"Ông có mua đinh không? Đinh ngày hôm qua mới bới ra, còn tốt."
"Tôi không đóng nhà."
"Không đóng nhà cũng nên coi. Nắp đồng hồ nè. Còn nguyên."
"Tôi coi thôi."
Ông cúi xuống, mắt lướt qua nắm đinh, qua cái nắp đồng hồ. Rồi mắt ông dừng lại ở một thứ nằm dưới mấy cái bản lề, đen xỉn, tròn, lòi ra một đoạn như đoạn dây thép cong.
"Bà cho tôi xem cái vòng ở dưới cùng."
"Cái nào?"
"Cái đen, nằm dưới mấy cái bản lề."
"À." Bà Tám nhấc đống bản lề lên bằng cả hai tay, kéo nó ra, đưa cho ông. "Mấy đứa nhỏ bới ở bờ sông, chỗ bến ghe cá, hôm kia. Đem chung với giỏ đinh. Tôi tưởng sắt."
Ông Thục đón lấy.
Nó nhẹ hơn ông tưởng và nặng hơn sắt cùng cỡ. Vòng tay, đường kính chừng hai lóng ngón, đen xỉn như than nướng, mép mòn trơn, một chỗ méo như bị ai bóp nhẹ trong lòng bàn tay. Ông xoay nó trong bóng râm của sạp, tránh nắng. Ngoài mặt có những nét khắc, mòn nhiều, nhưng vẫn là nét, xếp thành từng cụm, và các cụm ấy gợi cho ông cái dáng chữ.
Ông không đọc. Ông không đưa nó lên sáng.
Ông lấy móng ngón cái cạo thật khẽ ở mép trong. Một vệt nhỏ sáng lên, trắng, mỏng như sợi tóc, dưới lớp đen.
"Bạc," ông nói.
"Bạc? Ông nói bạc?"
"Bà không tin?"
"Tôi tưởng sắt xỉn. Sao ông biết?"
"Sắt không để lại vết sáng như thế."
Đứa nhỏ ngẩng đầu. "Cái đó con bới được, bà Tám. Ở chỗ bến ghe cá. Có ba cái đinh dính chung."
"Con nói bậy. Thằng nào bới ra thì đem về cho bà trước."
"Con đem rồi mà."
"Mày im đi."
Ông Thục nhìn bà.
"Bà bán bao nhiêu?"
"Bán cho ông thì hai lon gạo."
"Hai lon cho một cái vòng mòn?"
"Ông nói nó bạc."
"Bạc mòn, méo, không ai đeo. Thợ bạc nấu lại cũng hao."
"Ông không nấu. Ông muốn nó làm gì?"
"Tôi không muốn nó làm gì."
"Vậy sao ông hỏi giá?"
Ông Thục chưa trả lời ngay. Ông cầm cái vòng trong lòng bàn tay, ngón cái miết nhẹ lên mặt ngoài. Đầu ngón tay ông nhận ra một chỗ lõm, rồi một chỗ khác, nối tiếp thành một hàng ngắn.
"Hai lon," ông nói.
Ông đong gạo ngay trên tấm bạt, hai lon đầy, gạt phẳng miệng. Bà Tám đổ vào cái thúng nhỏ của mình, tay nhanh như người quen đếm. Đứa nhỏ nhìn ông, mắt không rời cái vòng.
"Thưa ông, cái đó có quý không?"
"Không quý."
"Vậy sao ông mua?"
"Vì nó có chữ."
Ông biết rõ nó không đáng bao nhiêu tiền bạc: bạc đã mòn mỏng, hình dáng đã hỏng, thợ nào cũng sẽ lắc đầu. Cũng như ông biết rõ nó đáng giá, đáng hơn cả số gạo còn lại trong khăn, và đáng vì một lý do mà ông không có tiếng để gọi. Có chữ. Chỉ vậy. Trong nghề ông, một vật có chữ thì có người viết, mà có người viết thì có điều người ấy muốn người khác đọc.
Ông bọc cái vòng vào một góc khăn, buộc nút, nhét vào ngực áo, rồi quay về, tay ôm gói mực và giấy.
Về đến nhà, ông đặt gói giấy lên bàn trước. Ông mở ngăn kéo, lấy ra cái hộp mực tàu bằng gỗ sơn đen mà ông đã dùng hết mực từ mùa mưa năm ngoái, nắp trượt, đáy lót nhung đã sờn. Ông tháo nút khăn, đặt cái vòng vào lòng hộp, giữa mảnh nhung, và đậy nắp lại. Rồi ông ngồi nhìn cái hộp, như người ngồi nhìn một đơn khai chưa ai ký tên.
Chiều đó ông chép tiếp một đơn khác. Nét bút lệch hai lần, hai lần ông phải bỏ tờ, chép lại từ đầu.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 22 →