1958 · Chaktomuk.

Ông Thục thức dậy trước khi trời sáng hẳn, việc đầu tiên là chà mực.

Cái nghiên đá xanh đặt giữa bàn, lòng nghiên lõm một vệt do bốn chục năm tay ông chà vào. Ông nhỏ ba giọt nước từ chén sành, cầm thỏi mực tàu đã ngắn còn hai đốt ngón tay, chà theo một chiều, tròn đều, không vội. Mùi mực nhẹ như mùi gỗ cháy, quyện với mùi mưa đêm còn đọng trên mái ngói. Khi nước mực đặc bằng nước cháo loãng, đen mà chưa bóng, ông nhúng ngòi bút sắt thử trên mép giấy nháp. Nét đầu còn nhòe. Ông chà thêm chừng hai chục vòng nữa.

Hôm nay ông phải xong một trang gia phả họ Lâm: khổ dọc, hai trăm chữ, bốn đời, mười một tên. Tối qua ông đã kẻ ô bằng thước tre và bút chì, bảy hàng dọc, mỗi hàng có chỗ cho tên, năm sinh, năm mất, nơi an táng. Đời thứ nhất một tên, đời thứ hai hai tên, đời thứ ba ba tên, đời thứ tư năm tên. Cộng lại là mười một.

Ông chép. Ngòi sắt chạm giấy kêu khẽ, sột, sột, như con tằm ăn lá. Tên các đời ông viết bằng chữ Nho, phần chú thích bên cạnh viết bằng quốc ngữ, mỗi chữ phải đủ nét, thiếu một nét là sai một đời người. Đến chữ thứ năm mươi tay ông run nhẹ, như mọi buổi sáng, ông đặt bút xuống, hơ hai bàn tay trên hơi ấm trà cho tới khi hết cứng. Đến chữ thứ một trăm tám mươi, vệt nắng rọi qua cửa sổ chia tờ giấy làm hai nửa. Chữ thứ hai trăm vừa xuống bút thì có tiếng guốc ngoài hiên.

"Thưa ông Thục, tôi đến sớm có quấy ông không?"

"Không. Chữ cuối còn ướt, ông chờ tôi thổi khô."

Ông Tín bước vào, mặc áo bà ba trắng, tay xách bao gạo nhỏ buộc miệng bằng sợi lạt. Theo sau ông là một cậu bé chừng mười bốn tuổi, tóc cắt ngắn, áo vá vai, đứng nép ở ngưỡng cửa nhìn vào cái nghiên và hàng bút trên giá.

"Cháu tôi, thằng Nghị," ông Tín nói. "Nó đòi đi theo xem người ta chép chữ."

"Cho cháu vào. Đứng xa bàn một chút, đừng chạm giấy."

"Dạ."

Ông Tín cúi xuống trang giấy. Ông lần ngón tay theo từng hàng dọc, không chạm vào mặt giấy, chỉ để ngón tay lơ lửng cách một lóng. Ông đọc nhẩm, môi mấp máy.

"Chữ ông đều quá. Cha tôi mà thấy, ắt nhận ra nét tay của người đã học chữ nghiêm chỉnh."

"Nét thì của tôi. Tên là của nhà ông."

"Đời thứ tư năm người, đủ chưa?"

"Đủ. Tôi đã đếm lại ba lần."

"Còn đời thứ năm."

"Đời thứ năm ông để trống, vì ông chưa đưa tôi đủ ngày tháng sinh của nhà anh cả ông."

"Anh tôi ở Kampot, thư đi thư về chưa xong." Ông Tín thở ra. "Hai tuần nữa chắc có."

"Hai tuần nữa tôi chép. Nhưng công phải tính thêm."

"Thêm bao nhiêu?"

"Mỗi tên nửa lon gạo. Đời thứ năm chín tên, vị chi bốn lon rưỡi."

"Nửa lon một tên," ông Tín nhắc lại, giọng ngẫm nghĩ. "Ông tính phải chăng. Tôi nhận."

Cậu bé Nghị ở ngưỡng cửa lên tiếng, nhỏ, như sợ làm rơi cái gì.

"Thưa ông, sao ông viết bằng bút sắt, không viết bằng bút lông?"

Ông Thục ngẩng đầu nhìn cậu qua gọng kính lão.

"Bút lông tôi dùng chép bia, chép câu đối. Bút sắt chép sổ, chép gia phả, vì nét sắt đều, giữ được hàng. Gia phả là sổ của một nhà. Cháu hiểu chưa?"

"Dạ, chưa hiểu hết. Mỗi ngày ông chép được mấy trang?"

"Một trang. Có hôm chỉ nửa trang."

"Sao ít vậy?"

"Một trang hai trăm chữ. Sai một chữ thì bỏ cả trang, chép lại từ đầu."

"Ông từng bỏ nhiều chưa?"

"Nhiều. Nên bây giờ ít."

"Con gái ông ở Sài Gòn có biết ông còn chép không?" ông Tín hỏi.

"Biết. Nó viết thư mỗi tháng bảo tôi nghỉ."

"Sao ông không nghỉ?"

"Tôi còn trang của nhà ông."

Ông Tín cười, đặt bao gạo lên mép bàn, kéo sợi lạt ra: gạo trắng, hạt dài, sạch trấu. Ông Thục bốc một nhúm, xem, thả lại.

"Gạo tốt."

"Gạo mới, tôi lấy ngoài chợ bến. Ông dùng cho khỏe."

"Cảm ơn ông. Trang này ông cầm về, để chỗ khô, đừng gấp ngang chữ."

"Tôi nhớ."

Trang gia phả được lót giấy, gấp ba theo chiều dọc, trao tận tay ông Tín. Cậu Nghị đi sau, quay lại nhìn cái nghiên lần cuối, rồi theo chú ra đường.

Ông Thục đổ gạo vào hũ sành, rửa bút, lau nghiên. Gần trưa, ông xỏ giày vải, ra bờ sông.

Ông ăn trưa ở bậc đá thứ ba tính từ trên xuống, chỗ ông ngồi mỗi ngày từ khi dọn về khu này. Cơm nắm với cá khô gói trong lá chuối, mở trên đầu gối. Nước sông đang lên, nâu đục, mang theo bèo và thân chuối trôi dạt. Trước mặt ông, bốn dòng sông gặp nhau: dòng từ phía bắc, dòng về phía hồ, và hai dòng đi ra, một xuôi nam, một chảy sang bên kia. Mùa này ông không phân được dòng nào vào, dòng nào ra, mặt nước ở giữa phẳng và chậm, chỉ ở rìa mới gợn vòng xoáy nhỏ. Ông không phân, ông chỉ đếm.

Một chiếc ghe hai mái chèo. Hai. Một chiếc tàu kéo phun khói. Ba. Một chiếc ghe chở dưa, mui lợp lá. Bốn. Một chiếc xuồng nhỏ. Năm. Sáu. Bảy. Cho tới khi miếng cơm cuối trôi xuống cổ, ông đếm được hai mươi mốt chiếc, rồi ông gói lá chuối lại, bỏ vào túi áo, và ngồi thêm cho đến khi chiếc thứ hai mươi hai đi qua.

Ông không nghĩ gì ngoài con số. Việc ấy, ông thấy, dễ chịu hơn nhiều việc khác.

Chiều về, người đưa thư để lại trước cửa một phong bì mỏng, tem Sài Gòn. Ông cầm lên, nhận ra nét chữ con gái ngay từ dòng địa chỉ. Ông ngồi vào bàn, rọc phong bì bằng cán bút, mở ra. Một tờ giấy học trò, chữ viết nghiêng, nửa tờ trống.

Ba còn khỏe không. Con và các cháu vẫn bình an. Ba nghỉ đi.

Ông đọc một lượt. Ông đọc lại lượt nữa, chậm hơn, từng chữ, như đọc một câu trong gia phả người lạ. Ông không thấy chữ nào sai, không thấy chữ nào thừa. Chỉ có ba chữ cuối, nét bút sắt dừng lâu hơn, mực đọng thành một chấm tròn ở cuối chữ đi.

Ông gấp lá thư theo nếp cũ, cất vào hộc bàn, đặt lên trên tập giấy kê khai họ Lâm. Rồi ông lấy từ chồng giấy một tờ mới, cầm thước tre, và bắt đầu kẻ ô cho trang kế tiếp.

Hết Chương 20
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 21 →
← TrướcTiếp →