1903 · Don Khon.
Trước khi trời sáng, lán phu đã đầy mùi muối, mùi khói bếp ướt và mùi mồ hôi của sáu người đàn ông vừa ngủ dậy trên sạp tre, và trong cái mùi ấy Nhì ngồi xếp bằng, tay ăn cơm, mắt nhìn lên cái dây kéo treo trên vách, thứ dây gai tết ba, to bằng cổ tay đứa nhỏ, đã quấn vào vai anh hơn một năm nay đến độ vai trái anh chai thành một cục lệch.
Cơm có muối, muối có ớt, và sáng nay ớt hết nên chỉ còn muối.
"Tao nói rồi, ớt phải cất trên xà," Tám Oanh nói, miệng nhai chậm. "Chuột nó ăn."
"Chuột ăn ớt ai mà hay."
"Tao hay."
"Mày hay cái gì cũng hay," Cả nói, và Út Lì cười rồi húp một ngụm nước, còn hai ông kia, những người cả lán chỉ gọi là mấy ông kia vì mới tới ba tuần và chưa ai hỏi tên, ngồi sát nhau ở cuối sạp mà ăn, không nói.
Ông cai bước vào lán đúng lúc cái bát cuối cùng chạm xuống sạp, tay cầm một thanh tre chẻ mà không bao giờ đánh ai, chỉ gõ vào cột để người ta nhớ ông có mặt. Sau ông là thầy ký Phụng, mặc áo dài thâm đã bạc ở khuỷu, kẹp cuốn sổ chuyến dưới nách, đứng ở ngưỡng cửa.
"Dậy hết chưa?" ông cai hỏi.
"Dậy rồi, ông."
"Tàu thứ hai về tới bến dưới từ chiều qua, nằm trên bờ thành từng mảnh. Hôm nay chở cho xong."
"Cả tàu luôn?" Tám Oanh hỏi.
"Cả tàu. Thân vỏ trước, nồi hơi với bánh guồng sau."
"Còn gạo cho đồn?"
"Còn gạo cho đồn, còn muối cho kho, còn mấy kiện của ông thợ cả người Tây. Tính ra mười hai chuyến, nếu trời không mưa và không đứa nào trật chân."
"Mười hai," Cả lặp lại.
"Nồi hơi chuyến nào?" Nhì hỏi.
"Chuyến thứ chín."
"Chuyến thứ chín," Tám Oanh nói. "Vai tao đau từ bây giờ rồi."
"Mười hai. Thầy ký ghi. Đứa nào kéo thiếu một chuyến thì thiếu một chuyến công."
Thầy Phụng lật sổ, đọc tên từng người, Nhì, Tám Oanh, Cả, Út Lì, rồi hai cái tên mà mấy ông kia đáp "có" bằng giọng trầm và nhanh, như tiếng của miền xa hơn.
Nhì ra khỏi lán sau cùng, vai trái nhích sang một bên để dây kéo ngồi đúng chỗ mòn.
Ánh sáng đã trắng mà cái nóng chưa lên. Cái máy hơi đứng trên bãi đầu dốc, khói than lên thẳng, chờ người ta đưa toa lên tới nó, vì từ bãi xuống chân bến là một đoạn ray dốc mà máy kéo nặng thì không lên nổi. Toa gỗ đứng chờ dưới chân dốc với sáu bánh sắt đã tra mỡ, trên lưng nó là nửa cái vỏ tàu mà người ở bến đã bẩy lên từ chiều hôm trước, dài hơn ba chiều người nằm, sơn trắng bong từng mảng. Khi đội của Nhì nhấc dây kéo lên vai, toa không nhúc nhích, chỉ kêu một tiếng rền trong sắt như tiếng bụng người đói.
"Một," Tám Oanh hô.
"Hự."
"Hai."
"Hự."
Toa nhích một gang. Rồi hai gang. Rồi nó lăn, chậm, từng bước chân đập xuống nền đất giữa hai thanh ray, sáu người một hàng, vai nghiêng về một phía, và cứ mỗi nhịp hô thì cả hàng cùng thở ra, cùng bước, cùng nghiêng, thành một con vật dài đi theo tiếng đếm.
Lên tới bãi, người ta móc toa vào sau cái máy, máy kéo cả đoàn qua đảo sang bến trên, và đội của Nhì đi bộ xuống dốc nhận toa tiếp. Mỗi lượt như thế là một chuyến. Chuyến thứ nhất là thân vỏ. Chuyến thứ hai là gạo cho đồn. Chuyến thứ ba, thứ tư, thứ năm là muối, bao cói rịn hạt trắng ra ngoài như mồ hôi. Nhì đếm trong đầu, không đếm ra miệng, vì ai đếm ra miệng thì cả lán gọi là thiếu việc.
"Mày đếm cái gì?" Tám Oanh hỏi, trên đường đi bộ về.
"Có đếm gì đâu."
"Môi mày động."
"Động vì khô."
"Chuyến này là chuyến thứ bảy," Nhì nói. "Cái vai tao nó đếm khác cái đầu tao."
"Khác sao?"
"Đầu tao nói bảy. Vai tao nói mười."
"Vai mày nói láo," Tám Oanh cười. "Vai mày nó nói từ hồi nào cũng mười."
Họ uống nước ở cái vại bên bến, ăn nửa nắm cơm nguội, rồi nhận dây kéo lần nữa. Chuyến thứ tám là kiện hàng của ông thợ cả người Tây, những cái thùng gỗ đóng đinh kỹ. Chuyến thứ chín là cái nồi hơi, nằm trên ba toa nối nhau, tròn, đen, nặng đến mức cả mười người, cả hai đội, phải kéo cùng nhau mới nhúc nhích. Chuyến thứ mười là bánh guồng, hai cái bánh to bằng cái cối, chồng lên nhau, đè ván toa kêu ken két.
"Đứng đây chờ," ông cai nói ở đầu dốc, tay gõ thanh tre vào cột.
"Chờ gì ông?" Út Lì hỏi.
"Chờ ông thợ cả coi bánh có nứt không."
"Nứt thì sao?"
"Nứt thì mày kéo lại."
"Không nứt đâu," Cả nói nhỏ. "Tao thấy rồi."
"Mày thấy gì, mày có biết bánh nứt trông thế nào không?"
"Không."
"Vậy thì đừng thấy."
Ông thợ cả người Tây đi quanh hai cái bánh, gật đầu. Ông cai quay sang họ.
"Đi."
Chuyến thứ mười một về tới bến dưới lúc mặt trời đã nghiêng.
Toa không đang quay đầu thì bánh cuối cùng trong sáu bánh sắt tuột khỏi ray, nghiêng hẳn xuống mép chân bến gỗ, nơi nước mùa lũ năm ngoái đã khoét một cái hố nhỏ chưa ai lấp. Thân toa chúi xuống, trục kêu một tiếng ngắn.
"Trật!" Út Lì kêu.
"Đứng yên," ông cai quát. "Trục có gãy không?"
"Không, ông, nó chỉ kêu," Cả nói.
"Vậy đứa nào xuống lấy cây chèn."
"Tao," Nhì nói.
Anh đặt dây kéo xuống, trượt xuống bùn bằng hai chân, nước bùn ngập tới đầu gối, lạnh hơn anh tưởng. Anh cúi xuống quờ tay tìm cây chèn gỗ bị văng vào gầm, và đầu ngón chân phải chạm vào một thứ cứng, nhỏ, tròn, nằm nghiêng như cái bát bị đạp lún.
Anh móc nó lên bằng hai ngón, ngón cái phải bẹt đè lên mép.
"Cái đinh," anh nói, không to.
"Đinh gì, lấy chèn đi!" ông cai quát.
"Đi liền."
Anh rửa nó trong nước, và bùn trôi đi từng mảng, nâu, rồi xám, rồi một chỗ sáng lên như mặt cá chép lật mình dưới nắng, và dưới ngón cái anh có những đường lằn nhỏ, sâu, nối nhau, như ai cầm mũi dao vẽ lên.
"Cái gì sáng vậy?" Tám Oanh hỏi từ trên bến.
"Cái đinh."
"Đinh gì mà sáng."
"Đinh mới."
"Đinh mới sao nằm dưới bùn?"
"Để tối rồi nói."
Anh giắt nó vào lưng khố, kéo cây chèn ra khỏi gầm toa, nhét vào dưới bánh, và cả đội nhấc thân toa lên bằng đòn bẩy, tiếng hô nối tiếng hô, cho đến khi bánh sắt ngồi lại vào ray, kêu một cái "cạch".
"Chuyến thứ mười hai," ông cai nói, và thanh tre gõ lên cột.
Nhì nhận lại dây kéo, vai trái nhích sang một bên, và cái vật nhỏ trong khố đập nhẹ vào đùi anh theo từng bước.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →