Đợt tấn công đầu lui, nhưng ai cũng biết Phản Đăng sẽ còn quay lại. Trong lúc nghỉ ngắn, bà Mỵ kéo Lành vào trong đền, đến trước ban thờ Chầu Bà, và nói điều bà đã hứa sẽ truyền.
Bên trong đền, khói hương từ bát nhang cũ vẫn còn vương lại, quyện với mùi khét của lửa xanh vừa dập tắt ngoài sân. Ánh sáng từ ngọn Đèn Cái và ngọn đèn Thượng Ngàn giờ đã hòa làm một, chiếu lên gương mặt bà Mỵ những nếp nhăn hằn sâu như những dấu tích của sáu mươi năm gánh vác. Lành nhìn bà, thấy hai tay bà run lên không ngớt, không rõ vì mệt hay vì cả một đời chờ đợi khoảnh khắc này.
"Cháu nhớ bà nói có một bí mật miền ngàn về chia lửa không?" Bà cụ thở dốc, tựa vào cột đền, hơi thở khò khè nặng nhọc. "Giờ bà nói cho cháu. Bà không còn nhiều thời gian, mà đêm nay nguy quá, lỡ bà có mệnh hệ gì..."
"Bà đừng nói gở," Lành nắm tay bà, giọng nghẹn lại.
"Nghe bà." Bà Mỵ siết tay cậu, ánh mắt kiên quyết dù thân hình run rẩy. "Người ngàn chúng tôi nghèo, ít người, nên từ xưa đã không trông vào một người giữ đèn. Mỗi bản, tổ tiên bà dạy giữ một ngọn lửa nhỏ trong nhà, không phải đèn thiêng như Đèn Cái, mà chỉ là bếp lửa thường, nhưng được người giữ đèn 'điểm' cho một lần. Người giữ đèn làm cầu nối, truyền một chút linh của Đèn Cái sang bếp nhà dân. Từ đó, mỗi bếp lửa ấy giữ được một mảnh nhỏ của lưới. Trăm bếp lửa của trăm nhà, hợp lại, gánh đỡ cho người giữ đèn rất nhiều."
Lành sững người, tim đập dồn. Đây chính là điều cậu lờ mờ cảm thấy khi để tay Đào chạm Đèn Cái cùng cậu mà lửa không tắt, ở đền Cô Bé Suối Ngang mấy hôm trước. "Vậy là... người thường cũng giữ được lửa, nếu có người giữ đèn làm cầu nối?"
"Đúng. Nhưng cách này thất truyền gần hết rồi. Phủ Cả không thích nó, họ muốn quyền giữ đèn nằm trong tay vài dòng họ, không muốn chia cho dân thường. Họ bảo dân thường giữ lửa thì loạn, thì nguy. Nên họ dồn tất cả vào một mạng lưới ít người, dễ kiểm soát, và dễ sụp." Bà Mỵ ho khan, cả người rung lên theo từng tiếng ho. "Bà tin cháu đi đúng đường rồi, cháu ạ. Chia lửa cho muôn người. Như Lạc Long Quân chia cho trăm con. Đó mới là cách giữ lưới bền, mà không ai phải cháy một mình. Cháu phải học cách 'điểm lửa' cho dân. Bà sẽ dạy cháu, nếu bà còn sống qua đêm nay."
Bà rút từ trong áo ra một mảnh giấy bản cũ, gập tư, dúi vào tay Lành, những ngón tay run rẩy nắm lấy tay cậu thêm một khắc như không nỡ buông. "Đây là cách điểm lửa, bà chép lại. Phòng khi bà không kịp dạy. Cháu giữ lấy. Đừng để Hội Đồng biết, họ sẽ ngăn cháu."
Lành cầm mảnh giấy, lòng dâng lên một niềm xúc động lẫn lo sợ, tay run đến mức suýt làm rơi. Cậu vừa nhận được mảnh ghép quan trọng nhất của đường thứ ba, từ một bà cụ thân tàn nơi đỉnh núi, người mà cả Phủ Cả đã lãng quên, người chỉ còn sáu mươi năm ký ức vụn vặt để lại cho hậu thế qua một mảnh giấy bản nhàu nát.
Cậu nhét mảnh giấy vào trong lần áo trong cùng, sát ngực, như cất giữ một báu vật quý hơn cả tính mạng mình, rồi quỳ xuống ôm lấy bà Mỵ một lúc, không nói được lời nào, chỉ cảm nhận hơi thở yếu ớt của bà qua lồng ngực gầy guộc, và thầm nguyện cầu bà sẽ còn sống qua đêm nay để tự tay dạy cậu điểm lửa, thay vì chỉ để lại một mảnh giấy cũ kỹ làm di chúc.
Trong khoảnh khắc ôm bà, Lành chợt nhận ra tay mình đang run không phải chỉ vì mệt hay vì xúc động, mà vì một nỗi sợ mới mẻ vừa nhen lên trong lòng, sợ rằng mình sẽ không kịp học hết những gì bà Mỵ còn muốn trao lại, sợ rằng đêm nay sẽ là đêm cuối cùng cậu còn được nghe giọng nói khàn đục ấy kể chuyện đời mình bên bếp lửa.
Ngoài kia, lửa xanh lại bùng lên ở chân núi. Ông Vọng đã ra hiệu cho đợt tấn công thứ hai, và tiếng bước chân đồng-dại lại rầm rập vang lên trên sườn núi đá, gần hơn, dứt khoát hơn lần trước.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 71 →