Cái sân ấy, Tuất biết rõ hơn bất cứ ai trong nhà, vì sáng nào nó cũng quét. Đất thịt pha cát, tưới nước rồi nện, mùa hanh thì nứt chân chim, mùa này thì mịn tới mức một con gà đi qua cũng để lại dấu ba ngón rõ như in trên khuôn. Quét xong, Tuất hay đứng lùi ra ngắm một lúc, thấy nó phẳng và sạch thì trong bụng dễ chịu, dù chẳng ai khen bao giờ.
Cho nên nó là người đầu tiên nhìn thấy cái chấm.
Ngón chân cái của Đôn miết xuống, xoay nửa vòng, rất nhẹ, đúng cái cách người ta chấm đầu bút vào nghiên mực. Chỗ đất mịn lõm xuống một dấu tròn bằng hạt đỗ, nằm ngay giữa hai bàn chân đang dạng rộng của cậu. Chỉ có thế. Đôn ngẩng lên, tay vẫn dang thẳng, mặt tỉnh bơ như vừa làm xong một việc vặt được sai.
"Thưa bác, thế là bác đáp trật rồi ạ."
"Trật thế nào." Ông khách nheo mắt, nắng đứng bóng chói quá, ông phải giơ tay che. "Cháu dang tay dang chân, chữ Đại chứ còn chữ gì."
"Thêm một chấm nữa là chữ Thái, thưa bác." Đôn hạ tay xuống, chỉ vào cái dấu tròn dưới chân mình. "Cháu đứng cao hơn chữ Đại một chấm."
Trên bậc thềm, ông khách không nói gì.
Ông đứng dậy. Đi ba bước ra giữa sân. Rồi ông làm một việc mà cả đời Tuất không quên: một ông quan mặc áo the, mồ hôi đóng muối trắng ở cổ áo, ngồi xổm xuống giữa sân thóc nhà người ta, ghé sát mặt xuống nhìn một cái chấm bằng hạt đỗ do ngón chân một thằng bé vạch ra.
Nắng đổ thẳng xuống gáy ông. Đàn kiến vẫn đi thành vệt sát chân tường, vòng qua hòn sỏi.
"Cháu học chữ Thái ở đâu?"
"Thưa, trong sách ạ."
"Sách nào?"
"Cháu không nhớ tên sách. Cháu nhớ chữ."
Ông khách ngẩng lên nhìn Đôn, và lần này thì ông không cười nữa, cũng không vò đầu cậu. Ông nhìn kiểu người ta nhìn một cái cân vừa đưa ra con số không giống mình đoán, phải xem lại xem cân có sai không.
Phần Đôn, cậu chẳng thấy có gì đáng để người lớn phải ngồi xổm cả. Chữ Đại thiếu một chấm thì thêm vào là thành chữ Thái, cũng như cái nong thiếu một góc thì vá vào là thành cái nong lành. Điều duy nhất làm cậu vui là ông khách đã chịu thua, nghĩa là bây giờ tới lượt cậu được hỏi. Cậu đã để dành sẵn ba câu hỏi từ nãy: ngựa ăn gì mà chân cao thế, ngoài trấn có thật là có cái chợ bán sách cũ không, và người lớn đi làm quan thì mỗi ngày làm những việc gì.
Cậu chưa kịp hỏi câu nào thì có tiếng chó sủa ngoài ngõ, rồi im ngay, kiểu con chó nhận ra người nhà.
Cha Đôn về tới, áo the phủ một lớp bụi đường mỏng, tay xách cái tráp gỗ đã tróc sơn ở góc.
"Anh tới chơi lâu chưa?" Cha hỏi, đứng lại ở cổng chào khách, rồi mắt ông dừng ở giữa sân.
Ông nhìn hai vệt chân dạng rộng in trên nền đất vừa quét, và cái chấm tròn nằm giữa.
"Ai vẽ cái này?"
Ông khách đứng dậy, phủi tay, và kể lại. Ông kể chậm, không thêm chữ nào, đúng như nó vừa xảy ra, và Đôn để ý thấy người lớn khi kể chuyện thật thì lại nói ít hơn hẳn lúc khen nhau. Kể xong, ông quay sang vỗ vai bạn.
"Ông về sớm nửa khắc thì đã được xem. Tôi ra khỏi làng này là tôi kể, ông đừng cấm tôi."
Mẹ Đôn từ trong nhà bước ra, tay còn cầm cái rá, đứng nép ở cửa. Bà không nói gì cả. Nhưng Đôn thấy bà đưa mắt sang cha rất nhanh, một cái nhìn hỏi chuyện gì đó mà cậu chưa đọc được.
Cha cậu đặt tráp xuống thềm. Ông không cười to như ông khách. Khóe mắt ông có nheo lại một chút, chỉ một chút, và Đôn biết rõ cái nheo mắt ấy nghĩa là gì, vì cậu chỉ thấy nó vào những hôm cậu học thuộc trước hạn thầy giao. Trong lòng cậu nở ra một thứ ấm áp, nhẹ, như hơi cơm mới mở vung.
Rồi cha cậu bảo, giọng bình thường như bảo đi rửa chân:
"Đôn, xóa cái chấm ấy đi cho cha."
Đôn ngơ ra một nhịp. Nhưng cậu vẫn cúi xuống, lấy cạnh bàn chân xoa nhẹ, đất mịn lấp lại, cái chấm biến mất, chỗ ấy chỉ còn hơi sẫm màu hơn xung quanh.
"Con biết vì sao chữ Thái cao hơn chữ Đại không?"
"Thưa cha, vì có thêm một chấm ạ."
"Ừ. Và cái chấm ấy nằm ở đâu?"
Đôn nhìn xuống. "Dưới chân ạ."
"Dưới chân." Cha cậu nhắc lại đúng hai chữ đó, không giảng thêm câu nào, rồi mời khách vào nhà uống nước.
Cả buổi trưa hôm ấy, trong lúc hai người lớn ngồi trong nhà nói chuyện quan trường, Đôn ngồi ngoài hè, hai tay bó gối, nghĩ mãi về cái chấm. Cậu nghĩ ra được một điều, và nó làm cậu hơi khó chịu.
"Tao vừa nghĩ ra." Đôn nói với Tuất, lúc này đang xúc thóc gần đó. "Chấm ở dưới chân thì ai đi ngang qua cũng giẫm lên được."
"Thì sao." Tuất không ngừng tay xúc, giọng tỉnh queo. "Cái gì để dưới đất mà chả bị giẫm. Cả cái sân này ngày nào chả bị giẫm, có sao đâu, mai quét lại là sạch."
"Nhưng tao không muốn nó bị giẫm." Đôn cãi, chính cậu cũng không rõ vì sao mình lại khăng khăng vậy.
"Vậy thì đừng vẽ dưới đất nữa." Tuất nhún vai, đổ nốt thúng thóc cuối, phủi tay. "Vẽ lên trời ấy, chẳng ai giẫm được."
Đôn thấy Tuất nói cũng có lý, nhưng vẫn không hết khó chịu.
Chiều, ông khách lên ngựa đi. Ra tới ngõ ông còn ngoảnh lại nhìn thằng bé một lần nữa, kiểu nhìn để nhớ mặt.
Đêm ấy trời oi, Đôn nằm ở gian ngoài, nghe rõ tiếng cha mẹ nói với nhau ở gian trong, nhỏ thôi, thứ tiếng nói nhỏ mà người lớn tưởng trẻ con đã ngủ.
"Ông ấy ra khỏi làng là cả tổng biết," mẹ cậu nói. "Rồi cả trấn."
"Biết thì biết." Cha cậu im một lúc lâu. "Tiếng đồn nó đi nhanh hơn người, bà ạ. Nó tới trường thi trước con mình mấy năm. Người ta nghe tên nó trước khi đọc chữ nó viết."
"Thì đã sao."
"Thì người ta sẽ không đọc nữa. Người ta chỉ so xem có đúng như đã nghe không."
Đôn không hiểu hết câu ấy. Cậu mới bảy tuổi, và trong đầu cậu lúc đó, trường thi là một chỗ xa lắc chưa có hình thù gì, còn "tiếng đồn" thì nghe cũng giông giống lời khen, mà lời khen thì có gì đáng lo.
Cậu chỉ nhớ được đúng một câu của cha, nhớ y nguyên, không sai một chữ. Và phải rất nhiều năm sau, khi đứng trước một tờ giấy đề tên người khác trên một bài văn không phải của người ấy, cậu mới hiểu ra câu đó nghĩa là gì.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →