Ở Diên Hà, chuyện hôm ấy về sau được kể lại nhiều lần tới mức mỗi nhà giữ một bản khác nhau. Có người bảo trời đổ mưa rào, người khác cãi là nắng chang chang tới nứt cả bờ ruộng. Có người quả quyết ông khách cưỡi ngựa, người bên xóm dưới lại nói ông đi bộ, lưng đeo tay nải, chân xỏ đôi dép da đã mòn vẹt một bên.
Chỉ có hai chi tiết là bản kể nào cũng giống nhau. Thứ nhất, cái sân đất nhà quan nghè họ Lê hôm ấy vừa quét xong, phẳng lì, mịn như mặt bánh đúc. Thứ hai, thằng bé bảy tuổi trong nhà lúc đó đang trốn việc.
Việc phải trốn là canh thóc.
Cuối tháng năm ta, thóc chiêm phơi đầy sân, vàng ộm, nóng rẫy dưới lòng bàn chân. Mẹ giao cho Đôn cái que tre dài đúng một sải tay, dặn ngồi đầu hè mà đuổi gà. Đôn ngồi được chừng hai chục nhịp thở thì chán. Đàn gà nhà bên cũng biết thế, đứng nép ngoài rặng duối chờ.
Cậu đang mải nhìn một chuyện khác. Ở góc sân, chỗ giáp chân tường, một đàn kiến đen đang tha xác con châu chấu về tổ. Chúng đi thành một vệt, không đứt quãng, và điều làm Đôn ngồi im hơn nửa buổi là chúng không hề đi thẳng. Vệt kiến vòng qua một hòn sỏi bằng đầu ngón tay, dù bên cạnh hòn sỏi ấy còn cả một khoảng đất trống thênh thang.
"Nó ngu à?" Tuất ngồi thụp xuống bên cạnh, tay bóc củ khoai lang luộc còn ấm, bẻ đôi, đưa Đôn nửa to hơn. "Đi vòng cho xa."
"Không phải ngu." Đôn cắn một miếng khoai, nói lúc miệng còn đầy. "Con đi đầu đi thế nào thì cả đàn đi thế. Nó đi vòng từ lúc hòn sỏi còn nằm chỗ khác."
Tuất ngoảnh lại nhìn hòn sỏi, rồi nhìn Đôn, rồi bỏ vào mồm nốt miếng khoai của mình. Nó không cãi. Nó chỉ rút một cọng cỏ gà bên bậc thềm, cắn ngang, và nhai.
"Mày mà đi học, chắc mày còn biết tại sao nó vòng nữa ấy chứ." Đôn nói, miệng vẫn còn khoai.
"Tao học ngoài cửa sổ đủ rồi." Tuất nhún vai, giọng tỉnh khô, không chút tủi thân. "Thầy giảng trong nhà, tao đứng ngoài nghe lỏm, về sân đọc lại cũng vanh vách, chỉ sai một hai chữ thôi. Học hẳn hoi trong nhà làm gì cho mệt."
"Sai một hai chữ với sai cả câu, khác nhau đấy." Đôn cười, đá nhẹ chân bạn.
"Khác gì, cha tao là gia nô, tao là con gia nô, ai cho tao ngồi cùng chiếu với mày." Tuất đáp gọn lỏn, không nghe ra chút cay đắng nào trong giọng, như đang nói về việc trời hôm nay có nắng hay không.
"Thóc có gà xuống không con?" Mẹ Đôn gọi vọng ra từ trong nhà.
"Dạ không ạ!" Đôn thưa, giọng rất tự tin, trong khi ba con gà mái đang thong thả đi giữa sân ngay sau lưng cậu.
Cha Đôn, ông Lê Trọng Thứ, đi việc quan trên trấn từ hôm mùng ba, đã bốn hôm chưa về. Nhà vắng ông thì rộng ra một cách lạ. Cái tráp sách trong gian bên vẫn đóng, không ai mở. Trong bốn hôm ấy, Đôn đã đọc lén hết ba quyển, và giấu chuyện đó kỹ hơn cả chuyện trốn canh thóc.
Tiếng vó ngựa nghe thấy từ ngoài đường đê, chậm rãi, có nhịp. Ở làng, ngựa là thứ hiếm hơn cả trâu tốt, nghe tiếng là cả xóm biết có khách sang. Tuất nhả cọng cỏ, đứng bật dậy trước.
Người khách dừng ngoài cổng tre. Ông trạc tuổi cha Đôn, mặc áo the thâm bạc màu vì nắng, cổ áo có vệt mồ hôi khô đóng muối trắng. Ông xuống ngựa, phủi hai ống quần, và hỏi Tuất, đúng cái giọng người ở phủ huyện hỏi một đứa trẻ chân đất.
"Nhà quan nghè Lê Trọng Thứ có phải đây không cháu?"
Tuất chưa kịp thưa thì Đôn đã ra tới bậc thềm, tay vẫn cầm cái que đuổi gà.
"Thưa bác, phải ạ. Nhưng cha cháu đi vắng."
Ông khách nhìn cậu bé một lượt từ trên xuống. Tóc để chỏm, áo vải nâu, hai bàn chân đen nhẻm bụi thóc, một vệt nhựa khoai còn dính ở khóe miệng. Rồi ông cười, cái cười mà Đôn đã gặp không dưới mười lần trong đời, cái cười của người lớn khi họ quyết định trước là sẽ không nghe câu trả lời của mình.
"Vậy ra cháu là con quan nghè." Ông vò đầu Đôn một cái. "Học đến đâu rồi? Thuộc hết Tam tự kinh chưa nào?"
Đôn không thích câu hỏi ấy. Không phải vì khó, mà vì mỗi lần có người hỏi như thế, họ đều đã cầm sẵn câu khen trong tay rồi, chỉ chờ cậu thưa xong là đem ra dùng. Cậu đứng thẳng người lên, và trong đầu thì nghĩ tới đàn kiến đi vòng qua hòn sỏi.
"Thưa bác, cháu mời bác vào nhà ngồi, cháu rót nước bác uống rồi cháu thưa. Nhưng cháu xin đố bác một chữ trước đã ạ."
Ông khách đang tháo dây cương, dừng tay. "Cháu đố ta?"
"Vâng ạ. Bác đáp trúng thì cháu thưa hết, bác hỏi gì cháu cũng thưa. Bác đáp trật thì bác uống nước xong bác ngồi nghe cháu hỏi lại."
Sau lưng Đôn, Tuất phát ra một tiếng ho rất giả.
Ông khách ngửa cổ cười to. Người khách nào tới nhà bạn đồng liêu mà gặp con chủ nhà lên bảy đòi ra điều kiện thì cũng cười như vậy. Ông buộc ngựa vào gốc cau, ngồi phịch xuống bậc thềm cho mát, chống hai tay ra sau, ra dáng người sắp xem trò vui.
"Được. Ta với cha cháu cùng làm quan một dạo, ta không nỡ ăn hiếp trẻ con, nhưng cháu đã đố thì ta đáp. Chữ gì nào?"
Đôn không nói gì. Cậu đặt cái que tre xuống thềm, đi ra giữa sân, chỗ nắng nhất, chỗ nền đất vừa quét còn phẳng lì chưa một vết chân.
Rồi cậu đứng dạng hai chân ra, hai tay dang thẳng sang hai bên, ngẩng mặt lên. Cái bóng của cậu đổ xuống mặt sân, ngắn cũn vì đã gần đứng bóng.
"Thưa bác, đây là chữ gì ạ?"
Ông khách nhìn. Một cái nhìn thôi, rồi ông vỗ đùi.
"Dễ quá. Chữ Đại." Ông nói chắc nịch, giọng người đã cầm chắc phần thắng, và còn nói thêm cho vui. "Chữ này thì đứa trẻ lên năm ngoài kinh nó cũng đọc được, cháu ạ."
Đôn lắc đầu.
Cậu không cãi một tiếng. Cậu chỉ nhích bàn chân trái lui lại nửa gang, cúi mặt xuống nhìn khoảng đất mịn giữa hai bàn chân mình, và hạ ngón chân cái xuống chạm vào nền sân vừa quét.
Ngoài gốc cau, con ngựa dậm chân một cái. Tuất bỏ cọng cỏ ra khỏi miệng.
Ông khách thôi cười, ngồi thẳng lưng lên.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →