Cái điện thoại rung một cái, bà Tư đang ngồi nhặt rau ngoài hiên, nghe thấy liền ngước vào trong nhà.
"Ông ơi, có tin nhắn kìa."
Ông Bảy ngồi trên ghế bành, cặp kính lão trễ xuống sống mũi, tay cầm điện thoại đưa ra xa một thước mới đọc được chữ. Ông gõ gõ ngón tay cái lên màn hình, gõ trật mấy lần, rồi cũng bấm gửi được.
"Gửi gì đó ông?"
"Hỏi thăm thằng Đức. Coi nó ăn cơm chưa."
Bà Tư gật gù, lại cúi xuống bó rau muống. Ngoài sân, con mèo mướp nằm dài dưới gốc cây mai, nắng chiều xiên qua khe lá đổ xuống nền gạch một vệt vàng nhạt.
Ông Bảy và cái điện thoại thông minh có duyên nợ với nhau chưa đầy hai năm. Hồi trước ông xài cái Nokia đen trắng, nghe gọi rõ ràng, pin cả tuần mới sạc. Rồi con gái út ở Sài Gòn gửi về cho ông cái điện thoại mới, nói là để ông gọi video với cháu. Ông cầm trên tay, nặng trịch, màn hình sáng choang, bấm hoài không biết đường nào mà lần.
"Ba cứ bấm cái hình con mắt xanh đó, rồi nói chuyện với cháu." Con gái ông chỉ qua điện thoại.
"Con mắt nào? Tao thấy toàn hình vuông."
"Trời ơi ba, ba nhìn kỹ đi. Cái hình có chữ Zalo đó."
Ông mò mẫm cả buổi tối mới mở được. Từ đó, ông mê luôn. Ông học nhắn tin, học gửi hình, học cả cách thả tim. Cái tim đỏ ông thả nhiều nhất là cho mấy clip dạy nấu ăn, dù ông chẳng bao giờ nấu theo.
Thằng Đức là con trai lớn của ông, làm ở khu công nghiệp trên Bình Dương, hai ba tháng mới về một lần. Nó ít nói, về nhà thì ăn cơm rồi ngủ, sáng sớm lại đi. Ông Bảy nhớ con, nhưng không biết nói sao. Ông nhắn tin.
"Đức ơi, hôm nay ăn gì chưa con?"
Tin nhắn gửi đi. Ba phút sau, có tin trả lời.
"Cháu chào ông. Cháu ăn rồi ạ. Ông bà ăn chưa?"
Ông Bảy đọc xong, cười hề hề. Ông nói với bà Tư: "Nó dạ thưa đàng hoàng lắm. Chắc hôm nay vui."
Bà Tư không ngước lên. "Ừ, chắc vậy."
Ông Bảy gõ tiếp: "Ừ, ông bà ăn rồi. Con làm việc vừa thôi, đừng thức khuya."
"Vâng ạ. Ông bà giữ sức khỏe."
Ông hài lòng, để điện thoại xuống, rót thêm ly trà. Ngoài kia, con mèo mướp đã ngủ quên từ lúc nào.
Thật ra thì cái số đó, ông Bảy lưu trong máy từ hồi thằng Đức mới mua sim mới, cách đây bốn năm. Hồi đó thằng Đức gọi về, dặn: "Ba lưu số này nha, số cũ con bỏ rồi." Ông Bảy lưu. Nhưng ông lưu nhầm một số. Thêm một số, bớt một số, ông cũng không nhớ nữa. Ông chỉ biết là ông bấm vào cái tên "Đức con" trong danh bạ, rồi gõ tin, rồi gửi. Vậy thôi.
Còn số đó là của ai, ông Bảy không biết. Ông cũng không cần biết.
Người nhận tin nhắn của ông Bảy là một cô gái tên Linh, hai mươi sáu tuổi, làm nhân viên chăm sóc khách hàng cho một công ty bảo hiểm ở quận 3. Cái sim cô đang xài vốn là sim cũ mua lại từ tiệm tạp hóa gần nhà, hồi cô mới từ quê lên thành phố. Cô không biết chủ cũ là ai. Cô chỉ biết là từ hơn một năm nay, có một người nhắn tin cho cô, xưng là ông, gọi cô là Đức, hỏi thăm cơm nước, dặn giữ sức khỏe, nhắc trời mưa nhớ mặc áo mưa.
Lần đầu tiên nhận được, Linh tưởng nhầm số. Cô định nhắn lại: "Dạ cháu không phải Đức, ông nhắn nhầm rồi ạ." Nhưng cô đọc lại tin nhắn một lần nữa. "Đức ơi, hôm nay trời trở gió, con nhớ mặc áo ấm nghe con." Cô nhìn cái câu đó một hồi lâu. Rồi cô trả lời: "Vâng ạ, cháu cảm ơn ông."
Tối đó, Linh nằm trên giường trọ, trần nhà thấp, quạt máy kêu ro ro. Cô nghĩ về ông nội cô ở quê, mất hồi cô học lớp mười hai. Ông nội cô cũng hay dặn cô mặc áo ấm. Cô nhắn lại một cái tin nữa: "Ông ơi, ông ngủ ngon ạ."
Sáng hôm sau, ông Bảy nhắn: "Ừ, ông ngủ ngon. Con ăn sáng chưa?"
Linh cười một mình trong bếp trọ, tay cầm ổ bánh mì. Cô trả lời: "Dạ cháu ăn rồi ạ."
Cứ thế. Một năm.
Ông Bảy mỗi ngày nhắn ba bốn tin. Sáng hỏi ăn gì. Trưa hỏi ngủ chưa. Chiều hỏi tan ca chưa. Tối hỏi coi thời sự chưa. Có hôm ông gửi cả hình con mèo mướp đang ngủ, kèm chú thích: "Con mèo nhà mình đó, con nhớ không?" Linh nhận hình, ngắm con mèo một hồi, rồi nhắn: "Dạ nhớ ạ. Nó mập hơn hồi trước hả ông?"
Ông Bảy đọc tin, gật gù với bà Tư: "Nó nhớ con mèo. Vậy là nó còn nhớ nhà."
Bà Tư đang xếp quần áo, nghe vậy thì dừng tay. "Ông à, ông có chắc là ông nhắn đúng số thằng Đức không?"
"Sao không đúng. Tao lưu trong máy mà."
"Ừ. Nhưng lâu rồi tao không nghe nó gọi về."
"Tại nó bận. Công nhân mà, tăng ca hoài."
Bà Tư không nói gì thêm. Bà cũng không biết cách kiểm tra. Bà chỉ thấy hơi lạ, vì thằng Đức hồi trước nhắn tin sai chính tả tùm lum, còn bây giờ nhắn tin dấu má đầy đủ, lễ phép dạ thưa. Nhưng bà nghĩ chắc nó đi làm lâu, học được.
Một hôm, ông Bảy nhắn: "Đức ơi, tháng sau rằm, con về không? Bà làm bánh ít."
Bên kia, Linh đọc tin nhắn, ngồi im. Cô nhìn màn hình một lúc lâu. Cô không biết trả lời sao. Cô đâu phải Đức. Cô đâu có bà làm bánh ít. Cô chỉ có một căn phòng trọ mười lăm mét vuông, một cái bếp điện, một con mèo giấy treo trên tường.
Cô nhắn: "Dạ tháng sau chắc cháu không về được. Cháu bận ạ."
Ông Bảy nhắn lại liền: "Ừ, bận thì thôi. Để bà gói bánh, ông gửi xe về cho."
Linh đọc câu đó, mắt cay cay. Cô không trả lời nữa. Cô để điện thoại xuống, đi rửa mặt.
Tối đó, Linh nằm nghĩ. Cô biết mình đang làm sai. Cô đang giữ một chỗ mà không phải của mình. Nhưng cô không biết làm sao để nói ra. Cô sợ nói ra rồi, ông Bảy sẽ buồn. Cô sợ ông biết mình nhắn nhầm suốt một năm, ông sẽ thấy mình vô dụng, già rồi mà còn bấm sai số. Cô nghĩ tới ông nội mình, nghĩ tới cái cảm giác có người hỏi thăm mỗi ngày, dù chỉ là một câu ngắn ngủi. Cô không muốn lấy đi cái cảm giác đó của ông Bảy.
Nhưng cô cũng không muốn tiếp tục giả vờ.
Cô mở điện thoại, gõ một tin nhắn dài, rồi xóa. Gõ lại, rồi xóa. Cuối cùng, cô nhắn: "Ông ơi, ông cho cháu hỏi chút ạ. Ông lưu số này lâu chưa ạ?"
Ông Bảy đọc tin, nhíu mày. Ông nhắn lại: "Lâu rồi con. Hồi con mua sim mới, con gọi về dặn ông lưu mà. Sao vậy con?"
Linh nhìn màn hình. Cô gõ: "Dạ không có gì ạ. Cháu hỏi vậy thôi."
Cô không dám nói tiếp. Cô nghĩ để mai. Mai rồi nói. Nhưng mai lại có tin nhắn mới: "Đức ơi, hôm nay bà nấu canh chua. Con thích ăn canh chua cá lóc không?"
Linh đọc, rồi cười, rồi thấy mắt mình ướt. Cô nhắn: "Dạ thích ạ."
Cô nghĩ, thôi thì thêm một ngày. Rồi thêm một ngày nữa. Rồi một tuần. Rồi một tháng.
Ở nhà, ông Bảy vẫn ngồi trên ghế bành, mỗi tối gõ tin nhắn, mỗi sáng đọc tin trả lời. Ông không biết mình đang nhắn cho ai. Ông chỉ biết là mỗi ngày, có một người nhắn lại cho ông, dạ thưa đàng hoàng, hỏi thăm ông bà. Vậy là đủ.
Một buổi chiều, thằng Đức thật gọi về. Chuông reo, ông Bảy nhìn màn hình, thấy tên "Đức con" hiện lên. Ông bấm nghe, giọng vui vẻ: "Đức hả con? Lâu quá không gọi về."
Đầu dây bên kia, thằng Đức nói: "Ba, con mới đổi số. Số cũ con bỏ lâu rồi. Ba lưu số mới này nha ba."
Ông Bảy im lặng một giây. Ông nhìn cái điện thoại, rồi nhìn cái tên "Đức con" trên màn hình. Ông nói: "Ừ. Ừ, ba lưu."
Ông cúp máy. Ông ngồi im trên ghế. Bà Tư đi vào, thấy mặt ông lạ lạ, hỏi: "Sao vậy ông?"
Ông Bảy không trả lời ngay. Ông cầm điện thoại, mở tin nhắn, nhìn lại mấy câu "Dạ cháu ăn rồi ạ" và "Ông bà giữ sức khỏe". Ông đọc một hồi lâu. Rồi ông nói, giọng bình thường: "Không có gì. Thằng Đức nó đổi số."
Bà Tư ngồi xuống cạnh ông. Bà nhìn cái màn hình sáng. Bà không hỏi thêm.
Ngoài hiên, con mèo mướp duỗi người, nắng chiều đã tắt, gió trở mùi đất ẩm. Ông Bảy để điện thoại lên bàn, rót ly trà, nhưng không uống. Ông nhìn ra sân, nhìn cái cây mai trụi lá, nhìn cái ghế nhựa thằng Đức hay ngồi hồi trước. Ông không nói gì.
Điện thoại rung. Một tin nhắn mới. Ông cầm lên, đọc.
"Ông ơi, tối nay trời lạnh, ông nhớ mặc áo ấm nghe ông."
Ông Bảy đọc câu đó ba lần. Cái câu "ông nhớ mặc áo ấm nghe ông" nó cứ nằm trong đầu ông, đọc tới đọc lui mà vẫn còn vang. Ông ngồi im, tay cầm điện thoại, mắt nhìn ra khoảng sân tối. Đèn đường trước ngõ vừa bật, ánh vàng vọt hắt vào bờ tường, con mèo mướp ngồi trên thành lu nước, đuôi phe phẩy.
Ông bấm trả lời. Ngón tay gõ chậm, từng chữ một, như sợ gõ sai.
"Ừ, ông cảm ơn con. Con cũng nhớ giữ ấm."
Rồi ông để điện thoại xuống, kéo cái khăn len trên lưng ghế choàng qua vai. Bà Tư từ trong bếp đi ra, tay bưng tô canh nóng, thấy ông ngồi vậy thì nói: "Ông vào ăn cơm đi. Canh nguội bây giờ."
Ông Bảy đứng dậy, nhưng trước khi vào bàn, ông còn ngoái lại nhìn cái điện thoại một cái. Cái màn hình đã tắt, đen thui.
Đêm đó, ông Bảy nằm trằn trọc. Bà Tư ngủ bên cạnh, tiếng thở đều đều. Ông nhìn lên trần nhà, nhớ lại câu thằng Đức nói ban chiều.
"Số cũ con bỏ lâu rồi."
Lâu rồi. Vậy là lâu rồi. Ông nằm tính nhẩm trong đầu. Một năm. Hơn một năm. Ông nhắn cho cái số đó từ hồi nào tới giờ, không biết bao nhiêu tin. Hỏi cơm, hỏi ngủ, hỏi thời sự, gửi hình con mèo, gửi hình cây mai, gửi cả cái clip ông tự quay ngoài sân lúc con mèo rượt con bướm. Ông gửi hết. Và người ta nhận hết. Người ta còn nhắn lại, dạ thưa, hỏi thăm ông bà.
Ông nghĩ tới cái người nhận tin đó. Ông không biết mặt, không biết tên, không biết ở đâu. Ông chỉ biết là mỗi ngày, có một người kiên nhẫn đọc những tin nhắn của một ông già xa lạ, rồi trả lời lại, tử tế, đầy đủ dấu má. Một năm trời.
Sáng hôm sau, ông Bảy dậy sớm. Ông pha ấm trà, ngồi ngoài hiên, cầm điện thoại. Trời còn mờ, sương đọng trên lá mai. Ông mở tin nhắn, kéo lên, đọc lại từ đầu. Tin đầu tiên: "Đức ơi, hôm nay ăn gì chưa con?" Tin trả lời: "Cháu chào ông. Cháu ăn rồi ạ." Ông đọc tới đó, mắt dừng lại ở chữ "cháu". Cháu. Không phải "con". Ông đọc tiếp. Càng đọc, ông càng thấy rõ. Người này chưa một lần gọi ông là "ba", chưa một lần xưng "con". Người này luôn gọi ông là "ông", xưng "cháu". Ông tự hỏi sao mình không nhận ra. Chắc tại ông chỉ đọc cái ý, không đọc cái chữ.
Ông ngồi im một hồi. Rồi ông nhắn một tin mới, không phải cho thằng Đức, mà cho cái người kia.
"Cháu ơi."
Ông dừng lại, nhìn chữ "cháu" trên màn hình, rồi gõ tiếp.
"Ông biết rồi. Ông không phải ba cháu. Ông nhắn nhầm số."
Ông bấm gửi. Tin đi. Ông để điện thoại lên bàn, rót trà ra ly, uống một ngụm. Trà nguội, nhưng ông uống hết.
Bên kia, Linh đang ngồi trên xe buýt đi làm. Điện thoại rung trong túi. Cô mở ra, đọc tin nhắn, rồi đọc lại. Cô ngồi im, tay nắm chặt cái cột xe buýt. Xe chạy qua cầu, gió lùa vào cửa sổ, tóc cô bay trước mặt. Cô nhìn ra ngoài, thấy dòng sông đục ngầu, thấy mấy chiếc ghe chở hàng. Cô cúi xuống nhìn màn hình. Ngón tay cô run.
Cô nhắn lại.
"Cháu xin lỗi ông. Cháu không phải Đức. Nhưng cháu... cháu không biết nói sao. Cháu thấy ông nhắn hoài, cháu không đành lòng nói ra. Cháu xin lỗi ông nhiều lắm."
Cô gửi đi, rồi ngồi chờ. Xe buýt qua thêm mấy trạm, người lên người xuống, tiếng báo trạm vang lên đều đều. Điện thoại cô rung.
"Không sao đâu cháu. Ông cảm ơn cháu. Một năm nay, cháu trả lời ông mỗi ngày. Ông vui lắm."
Linh đọc tới đó, nước mắt trào ra. Cô lấy tay quệt, nhưng không kịp, nước mắt chảy xuống má, xuống cổ. Người ngồi bên cạnh nhìn cô, cô quay mặt đi, giả vờ nhìn ra cửa sổ.
Cô nhắn: "Ông ơi, cháu tên Linh. Cháu ở quê lên Sài Gòn làm. Ông nội cháu mất rồi. Ông nhắn cho cháu, cháu thấy như ông nội cháu còn sống."
Ông Bảy đọc tin đó, ngồi im rất lâu. Ông nhớ lại mấy câu "Dạ cháu ăn rồi ạ", "Ông bà giữ sức khỏe", "Dạ thích ạ". Ông nhớ cái câu "Ông ơi, tối nay trời lạnh, ông nhớ mặc áo ấm nghe ông." Ông nhớ mình đã choàng cái khăn len lên vai, dù hồi đó trời chưa lạnh lắm.
Ông nhắn: "Vậy cháu khỏe không? Công việc sao rồi?"
"Cháu khỏe ạ. Cháu làm chăm sóc khách hàng. Ngày nào cũng nghe người ta than phiền, nhưng cháu quen rồi."
"Ừ. Làm gì cũng cực. Cháu ăn uống đầy đủ nghe."
"Vâng ạ. Ông bà ăn sáng chưa ạ?"
Ông Bảy nhìn tin nhắn, cười một mình. Cái câu hỏi đó quen quá. Một năm nay, ông nhận nó mỗi ngày. Ông nhắn: "Ông ăn rồi. Bà đang nấu cháo."
Rồi ông gọi bà Tư. Bà Tư đang vo gạo, tay ướt, đi ra. Ông nói: "Bà à, tao nhắn nhầm số thằng Đức. Lâu nay mình nhắn cho một con nhỏ ở Sài Gòn, tên Linh. Nó trả lời mình suốt một năm trời."
Bà Tư đứng im, nước từ tay bà nhỏ xuống nền gạch. Bà nhìn ông, rồi nhìn cái điện thoại. Bà hỏi: "Vậy hả ông? Con nhỏ đó nó sao?"
"Ổng nói nó ở quê lên, làm bảo hiểm. Ông nội nó mất rồi. Nó thấy mình nhắn, nó không đành lòng nói ra."
Bà Tư lau tay vào áo, ngồi xuống cạnh ông. Bà nói: "Tội nghiệp con nhỏ. Vậy ông tính sao?"
Ông Bảy rót thêm ly trà, đẩy về phía bà. Ông nói: "Tao tính hỏi nó cái địa chỉ. Bà gói bánh ít, gửi vô cho nó. Coi như cảm ơn."
Bà Tư gật đầu. "Ừ. Gói thêm bánh tét nữa. Nó làm ở thành phố, chắc không có ai gói cho."
Thế là ông Bảy nhắn cho Linh: "Cháu cho ông xin địa chỉ. Bà gói bánh, ông gửi vô cho cháu ăn."
Linh đọc tin, ngồi khóc trong cái phòng trọ mười lăm mét vuông. Cô nhắn lại địa chỉ, kèm một câu: "Ông bà đừng gửi nhiều quá ạ. Cháu ăn một mình."
Ông Bảy nhắn: "Ăn một mình cũng phải ăn. Bà gói rồi, cháu cứ nhận."
Một tuần sau, cái bưu phẩm tới. Linh xuống nhận, bưu phẩm nặng trịch, gói trong giấy báo cũ, bên ngoài ghi chữ nguệch ngoạc "Cháu Linh nhận. Ông Bảy gửi." Cô bưng lên phòng, mở ra. Trong đó có mấy chục cái bánh ít lá gai, một bó bánh tét, một túi mè đen, một gói trà khô, và một mẩu giấy nhỏ. Trên mẩu giấy, nét chữ run run:
"Cháu ăn nghe. Trà này ông tự hái, tự sao. Uống cho ấm bụng. Ông bà chúc cháu khỏe."
Linh cầm mẩu giấy, đọc đi đọc lại. Rồi cô lấy cái bánh ít, bóc lá, cắn một miếng. Bánh nếp dẻo, nhân đậu xanh, có mùi lá gai thơm thơm. Cô ăn hết cái bánh, rồi ăn thêm cái nữa. Cô ngồi trên sàn, lưng tựa vào tường, ăn bánh, uống trà ông Bảy gửi. Cái mùi trà nó thơm, ấm, giống cái mùi trà ông nội cô hay pha mỗi sáng, hồi cô còn nhỏ.
Cô nhắn cho ông Bảy: "Cháu nhận được rồi ạ. Ngon lắm ông ơi. Cháu cảm ơn ông bà nhiều."
Ông Bảy nhắn: "Ừ. Ăn hết rồi bà gói tiếp."
Từ đó, ông Bảy với Linh nhắn tin cho nhau mỗi ngày. Nhưng không còn là tin nhắn giả vờ. Ông Bảy hỏi thăm cô gái ở Sài Gòn, hỏi công việc, hỏi sức khỏe, hỏi coi cuối tháng có về quê không. Linh kể cho ông Bảy nghe chuyện công ty, chuyện khách hàng khó tính, chuyện cô nuôi con mèo giấy trên tường, chuyện cô thèm cơm nhà. Ông Bảy đọc, rồi nhắn lại: "Cuối tuần này rảnh thì về đây. Bà nấu canh chua cá lóc."
Linh nhắn: "Cháu về được không ông?"
"Về được. Ông bà đâu có ăn thịt cháu."
Linh cười, nước mắt lại chảy. Cô nhắn: "Dạ. Cháu về."
Hôm Linh về, cô bắt xe đò từ Sài Gòn xuống. Cô mặc cái áo khoác cũ, xách một túi trái cây. Cô đi bộ vô cái hẻm nhỏ, tới căn nhà ngói cũ, trước sân có cây mai trụi lá, con mèo mướp nằm trên cái ghế nhựa. Ông Bảy đứng trước cửa, tay cầm cây chổi, tóc bạc, cặp kính trễ xuống sống mũi. Ông nhìn cô, rồi hỏi: "Cháu đó hả?"
Linh gật đầu. Cô nói: "Dạ. Cháu là Linh đây ạ."
Ông Bảy để cây chổi xuống, bước ra, vỗ vai cô một cái. Ông nói: "Ừ. Vô nhà. Bà đang nấu canh chua."
Linh đi vô. Bà Tư đứng bên bếp, thấy cô thì cười. Bà nói: "Con nhỏ này, sao ốm vậy? Ở thành phố ăn uống không đủ hả?"
Linh dạ một tiếng. Cô ngồi xuống cái ghế nhựa, con mèo mướp ngước lên nhìn cô một cái, rồi lại nằm xuống. Ông Bảy rót trà, đẩy ly về phía cô. Ông hỏi: "Công việc sao rồi?"
"Cháu mới xin nghỉ chỗ cũ. Cháu đang tìm việc khác."
"Ừ. Từ từ. Không có gì gấp."
Bà Tư bưng tô canh chua ra bàn, cá lóc nấu với me, thơm lừng. Bà nói: "Ăn đi con. Ăn cho có sức."
Linh cầm chén cơm, ăn miếng đầu tiên. Cơm nóng, canh chua, cá lóc. Cô nhai chậm, rồi nhai nhanh, rồi nước mắt chảy. Cô lấy tay quệt, nhưng ông Bảy với bà Tư đều thấy. Ông Bảy không nói gì. Ông chỉ gắp thêm miếng cá vô chén cô, rồi nói: "Ăn đi. Ở đây không ai cười cháu đâu."
Linh ở lại chơi hai ngày. Cô phụ bà Tư nhặt rau, phụ ông Bảy tưới cây. Cô ngồi nghe ông Bảy kể chuyện thằng Đức hồi nhỏ, chuyện con mèo mướp mới bắt về hồi nó còn nhỏ xíu, chuyện cây mai nở bông vàng mỗi dịp Tết. Cô cũng kể cho ông bà nghe chuyện quê cô, chuyện ông nội cô, chuyện cô lên Sài Gòn làm hồi hai mươi tuổi, chuyện cô khóc một mình trong phòng trọ những đêm đầu tiên.
Ngày cô về, ông Bảy gói cho cô một túi bánh, một gói trà, và một cái phong bì. Cô mở ra, thấy trong đó có mấy trăm ngàn. Cô nói: "Ông ơi, cháu không lấy đâu."
Ông Bảy nói: "Cầm đi. Ông cho cháu, không phải cho người lạ. Cháu là cháu của ông."
Linh cầm cái phong bì, gật đầu. Cô lên xe, ngồi cạnh cửa sổ, vẫy tay. Ông Bảy đứng trước cửa, vẫy tay, con mèo mướp ngồi bên chân ông. Xe chạy, cái hẻm nhỏ xa dần, cây mai trụi lá xa dần. Linh mở điện thoại, nhắn: "Cháu về tới Sài Gòn rồi ạ. Ông bà giữ sức khỏe."
Ông Bảy nhắn lại: "Ừ. Rảnh thì về."
Tối đó, ông Bảy ngồi trên ghế bành, cầm điện thoại. Ông mở danh bạ, nhìn cái tên "Đức con" trong máy. Ông bấm sửa, xóa cái số cũ, nhập cái số mới thằng Đức vừa đọc. Rồi ông nhìn xuống dưới, nhập thêm một cái tên mới. Ông gõ chữ "Linh", rồi nhập số điện thoại. Ông lưu lại. Xong, ông để điện thoại xuống, rót ly trà, uống một ngụm. Trà còn nóng.
Bà Tư ngồi bên cạnh, đang đan áo. Bà hỏi: "Ông lưu xong chưa?"
"Xong rồi. Hai đứa, hai số."
"Ừ. Vậy là đúng số hết rồi."
Ông Bảy gật đầu. Ông nhìn ra sân. Con mèo mướp đang ngủ dưới gốc mai. Đèn đường trước ngõ sáng vàng. Ông nói: "Bà à, mai gói bánh ít nữa đi. Gửi vô cho con Linh. Nó ăn một mình, tội nghiệp."
Bà Tư cười. "Ừ. Mai tôi gói."
Ông Bảy cầm điện thoại lên, mở tin nhắn. Ông gõ: "Cháu ơi, mai bà gói bánh. Mấy bữa nữa có bánh ăn."
Bên kia, Linh đang ngồi trên giường trọ, đọc tin nhắn, cười một mình. Cô nhắn lại: "Dạ. Cháu chờ ạ. Ông bà ngủ ngon."
Ông Bảy đọc tin, rồi nhắn cái cuối: "Ừ. Cháu ngủ ngon."
Ông để điện thoại xuống, kéo cái khăn len choàng qua vai. Bà Tư đan áo, tiếng kim đan khua đều đều. Ngoài kia, gió trở mùi đất ẩm, trời sắp mưa. Ông Bảy ngồi im trên ghế bành, mắt nhìn vào khoảng sân tối, miệng cười một mình. Cái điện thoại nằm trên bàn, màn hình sáng lên một cái, rồi tắt. Trong danh bạ, hai cái tên nằm cạnh nhau, hai con số khác nhau, nhưng đều là người nhà.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →