Mực nước 9,4 mét. Làng cách lộ năm cây.
Giữa tháng mười một, chiều, anh Hai bước lên bè từ ghe, vai vác bao đựng đồ, áo khoác gió màu xám kéo khóa tới cằm. Anh đặt bao xuống ván, vặn cổ, nhìn quanh nhà một vòng như đếm xem cái gì còn nguyên.
"Má đâu?" anh hỏi.
"Ở bếp."
"Em sao rồi?"
"Em khỏe."
"Mặt em ốm."
"Em vá lưới nhiều."
"Vá lưới chi nhiều vậy?"
Cô không đáp ngay. Cô đứng ở giữa nhà, hai tay buông xuôi, nhìn anh cởi áo khoác, vắt lên xà. Từ bếp có tiếng má khuấy nồi, đều, không nghỉ.
"Anh Hai," cô nói. "Em làm lễ."
Anh Hai không động. Anh giữ nguyên tư thế, hai tay còn trên vai áo, mắt nhìn vô một khoảng ván trống trước mặt.
"Thầy Ôn làm," cô nói. "Thứ bảy này, chạng vạng. Ông Ba Hội cho ba chục ký gạo, hai nải chuối. Ông bảo phải có người lớn đứng tên."
Anh Hai nghe. Anh không hỏi lễ cho ai, không hỏi vì sao, không hỏi sao không nói sớm hơn. Anh buông áo khoác, bước vài bước vô trong, và dừng lại ở cửa bếp, lưng quay về phía cô.
"Má," anh nói.
"Hử."
"Tiền thì con lo."
Tiếng khuấy nồi ngừng.
"Má đừng lấy chuyện tiền ra nói."
"Tao có nói gì đâu," má nói.
"Má đừng nói."
"Tao không nói."
"Vậy thôi."
"Vậy thôi."
Tiếng khuấy nồi lại bắt đầu, chậm hơn. Anh Hai đứng thêm một nhịp, rồi quay lại, lấy áo khoác xuống, mặc vô lần nữa.
"Anh đi gặp ông Ba," anh nói.
"Anh mới về."
"Anh đi liền. Tại vì để lâu là mất ngày."
"Tới ông Ba làm gì?"
"Đứng tên."
Anh bước xuống xuồng, chống sào, đi dọc theo hàng bè, tới cái bè hai gian mái tôn ở xa. Cô nhìn theo cho tới khi áo khoác xám của anh nhỏ như một hạt tro. Cô đứng ở mé bè một lúc, rồi quay vô.
Anh về lúc trời sắp tối, xuồng nặng nề vì bao gạo ba chục ký nằm giữa. Anh vác nó lên vai, bước lên bè, đặt xuống sàn trước mặt cô. Mồ hôi chảy xuống cổ anh, thấm vô cổ áo gió.
"Ông Ba nói sao?" cô hỏi.
"Ông hỏi anh có chịu không."
"Anh nói sao?"
"Anh nói chịu."
"Ông hỏi thêm gì không?"
"Ông hỏi má có cản không."
"Anh nói sao?"
"Anh nói má không cản."
"Ông nói gì?"
"Ông nói ừ." Anh Hai thở ra. "Ông nói đứng tên là đứng miệng, và anh đứng rồi. Vậy là xong."
"Dạ."
"Em cầm gạo vô."
Cô cầm bao gạo, kéo lê qua ván vô góc nhà. Gạo nặng, và cô phải nghiêng người mới nâng được một đầu. Anh Hai nhìn một lúc, rồi bước tới nâng đầu kia.
Hai anh em để bao gạo trong góc bếp, xếp trên một tấm ván kê, tránh ẩm. Họ không nói gì thêm.
Tối đó, có một cái ghe thư cập mé trước. Người chạy ghe, một ông gầy đội nón lá, đưa một mảnh giấy cuộn tròn cho anh Hai, rồi đứng đợi.
"Chị Ba nhắn," ông nói. "Chị bận."
"Bận gì?" anh Hai hỏi.
"Chị không nói. Chị chỉ nói chị bận."
"Có nhắn thêm gì không?"
"Không."
Anh Hai mở mảnh giấy ra, xem, gấp lại. Giấy chỉ có một dòng chữ viết vội. Anh đưa ông chạy ghe mấy ký cá khô gói trong lá chuối, và ông chạy đi, mái chèo khuấy một vệt trắng trên mặt nước tối.
Anh quay sang Sophea. "Chị nói vậy."
Cô gật.
Sáng hôm sau, nhà đông người. Bà Tám tới từ sớm, hai tay bưng một mẹt bánh, và ông Bảy Cạn theo sau, vai vác một chồng ghế gỗ nhà ông, đem ra chùa cho đủ chỗ ngồi.
Họ không hỏi ai làm gì. Họ cứ bước lên bè, đặt đồ xuống, xắn tay áo. Rồi ông Chín Lưới cũng chèo xuồng tới, ngồi ở mé bè, tay không, mắt nhìn ra mặt nước, không nói tiếng nào.
"Con Sophea!" bà Tám gọi. "Chén bát nhà con để đâu? Bà rửa."
"Dạ, trong cái thùng đó bà."
"Bao nhiêu cái?"
"Con đếm mười hai cái."
"Mười hai." Bà gật. "Đủ rồi."
"Dạ."
"Bà rửa cho sạch. Chén cúng mà dính dầu là mắc tội."
"Dạ, con biết."
"Mà con biết hay con không biết?" Bà Tám cười. "Thôi, bà rửa. Con lo nhang."
Cô ngồi xuống chiếu, bó nhang bày trước mặt. Ba bó lớn, mỗi bó hai chục cây, buộc dây đỏ. Anh Hai ngồi đối diện, tay anh vụng, nhưng anh làm theo, chia nhang ra thành từng nắm nhỏ, xếp lên mâm. Hai anh em xếp, rồi chia, rồi lại xếp.
"Cái này bao nhiêu cây?" anh hỏi.
"Hai chục."
"Anh đếm mười chín."
"Hai chục."
"Mười chín. Anh đếm kỹ."
Cô đếm lại. Mười chín. Cô rút một cây từ bó khác, thêm vô, và đặt cả nắm xuống mâm.
"Em đếm lại giỏi hơn anh."
"Em đếm quen."
Ông Bảy Cạn khiêng ghế ra mé, đặt xuống ván từng cái, hai tay ông nhăn nheo nhưng chắc. Ông xếp thành hàng chờ xuống xuồng, mỗi cái cách nhau một sải. Ông đếm miệng, nhỏ, và cô nghe ông đếm tới mười hai rồi dừng.
"Đủ ghế cho mười hai người," ông nói.
"Dạ."
"Còn người đứng thì khỏi ghế."
"Dạ."
"Tui trả cái muôi." Ông đưa cái muôi gỗ. "Hẹn cuối tháng giêng mà tui giữ tới giờ."
"Dạ."
Má đứng ở bếp từ sáng. Bà nấu một nồi cơm lớn, nồi gang đen, hai tay khuấy cái muôi dài, lưng không quay lại. Bà nấu cho người làm, như mọi ngày có đông người.
Bà không đụng tới mâm lễ, không đụng bó nhang, không đụng cái chén nào đã rửa. Bà không hỏi ngày, không hỏi giờ.
Khi mặt trời lên đỉnh, nồi cơm chín. Hơi nước bốc lên thành một cột trắng, và mùi cơm tràn ra khắp nhà. Má nhấc nồi khỏi lửa, bưng bằng hai tay, và đặt xuống sàn giữa nhà, cách mâm lễ chừng ba bước. Bà không nhìn mâm.
"Cơm chín rồi," má nói.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 46 →