Ông Hai Thẹo dẫn cô vào trong miếu, chỉ tay ra cái chiếu rách trải sẵn trước bàn thờ phụ, rồi tự tay thắp một ngọn đèn dầu đặt giữa hai người. Ánh lửa nhỏ hắt lên vách ván hai cái bóng chập chờn, bóng ông to bè và cứng, bóng cô gầy và thẳng, cả hai đều run theo từng cơn gió lùa qua khe cửa. Bên trong miếu tối om, chỉ có quầng sáng vàng của ngọn đèn dầu soi rõ một khoảng chiếu chừng hai thước vuông, phần còn lại chìm hẳn vào bóng tối, lờ mờ nhận ra được cái bệ thờ chính với mấy bát nhang cũ và một pho tượng gỗ sơn son đã bong gần hết. Bên ngoài, tiếng côn trùng kêu rả rích không dứt, thỉnh thoảng có tiếng gì đó rơi lộp bộp xuống mái tôn, có lẽ một trái cây rừng rụng từ cây so đũa gần bến.
Cô ngồi xuống chiếu, giữ lưng thẳng, nghiêng mặt tránh khói đèn dầu bay ngang. Cuốn sổ vẫn nằm trong bao ni lông, cô đặt nó xuống chiếu, ngay khoảng giữa hai người, không còn chìa ra nữa. Ông Hai Thẹo ngồi xếp bằng đối diện, hai bàn tay úp xuống đùi, không nhìn cuốn sổ lấy một lần. Mùi dầu lửa từ cây đèn trộn với mùi ẩm mốc của mái miếu lâu năm, thoang thoảng thêm mùi nhang tàn từ mâm cúng ông vừa bưng vào để trên bệ thờ.
"Tao nói ba câu. Câu thứ tư là của người khác."
"Ông nói đi."
Ông im lặng một lúc, mắt nhìn ra khoảng tối sau lưng cô, giọng chậm hẳn lại như đang lựa từng chữ.
"Câu một. Bây biết sông nó chở cái gì hông? Nó chở hết. Nó chở luôn cái phần bây tưởng bây giữ được."
Cô không hỏi lại, chỉ gật nhẹ, để ông nói tiếp. Ngọn đèn dầu chao một cái vì luồng gió mới, bóng trên vách nhòe đi rồi lại rõ dần.
"Câu hai. Muốn đòi lại cái gì đã mất thì phải đi ngược dòng mà tìm, không phải ngồi một chỗ chờ nước đem trả. Nước không trả cái gì hết, nó chỉ mang đi thêm."
"Dạ."
Ông ngừng lại lâu hơn hai lần trước, tay vẫn úp nguyên trên đùi, ngón tay khẽ gõ một nhịp chậm lên đầu gối như đang đếm thầm cái gì trong đầu.
"Câu ba. Sổ không phải để cứu ai. Sổ để ghi. Ghi trước hay ghi sau, có gì khác đâu."
Cô nhíu mày, định hỏi lại câu đó nghĩa là sao, nhưng ông đã đưa tay lên, xòe ba ngón, ra dấu là đã hết phần của ông. Ngọn đèn dầu giữa hai người cháy đều, ngọn lửa nhỏ xíu không lay động, khác hẳn lúc nãy cứ chao qua chao lại theo từng cơn gió lùa qua khe cửa.
"Câu ba là sao? Chưa hiểu."
"Bây không cần hiểu bây giờ. Tới lúc bây hiểu, bây sẽ nhớ lại đúng cái đêm nay."
"Hỏi thêm một câu được không?"
"Không được. Ba câu là ba câu."
"Có một câu."
"Một câu cũng là câu thứ tư. Tao đã nói câu thứ tư là của người khác, không phải của tao."
"Vậy hỏi ai?"
"Tao không biết. Đi mà tìm."
"Ông biết mà không nói, hay ông thiệt sự không biết?"
"Bây hỏi câu đó hai lần rồi. Tao trả lời một lần thôi, lần nào cũng vậy."
"Đâu có hai lần."
"Có. Hỏi cách khác thì vẫn là một câu. Bây tưởng đổi chữ là đổi được câu hỏi hả."
"Câu khác. Ông là người cuối cùng gặp cha tui, phải không?"
"Đó cũng là câu thứ tư. Tao đã nói rồi, câu thứ tư là của người khác."
Ông Hai Thẹo đứng phắt dậy, cái bóng trên vách vụt lớn hẳn ra, trùm gần kín một góc miếu.
"Bây hỏi vậy là hỏi câu thứ năm rồi đó. Thôi, khuya rồi, về đi."
"Về đây."
Út Lành đứng lên theo, gói lại cuốn sổ, cất vào túi vải.
"Ông nói ba câu là đuổi tui. Tui đi rồi tui về hỏi ông câu thứ tư."
"Về được thì ghé. Tao không cấm."
Cô cúi đầu chào ông, bước ra phía cửa miếu, cánh cửa gỗ hé mở lộ ra một mảng đêm đen kịt, chỉ có tiếng nước ngã ba róc rách vọng vào, hòa lẫn với tiếng ếch nhái kêu rộ lên đâu đó gần bờ sậy. Trước khi bước hẳn qua ngưỡng cửa, cô ngoái lại nhìn ông một lần cuối.
Ông Hai Thẹo vẫn đứng nguyên chỗ cũ, tay vẫn buông thõng bên hông, mắt nhìn theo cô nhưng không một lần nào liếc xuống chỗ cái túi vải đang đựng cuốn sổ. Suốt từ lúc cô bước vào miếu tới giờ, đèn dầu cháy gần hết một nửa, ông chưa nhìn cuốn sổ lấy một giây nào, kể cả lúc cô đặt nó xuống chiếu ngay trước mặt ông.
Cô bước ra bến, cởi dây buộc ghe, nổ máy chạy ngược trở lại hướng nhà. Đèn miếu phía sau lưng nhỏ dần rồi khuất hẳn sau một chỗ quanh của con sông, chỉ còn lại bóng tối đặc và tiếng máy ghe cô nổ đều giữa quãng vắng. Mặt nước đêm đen thẫm, không còn phân biệt được đâu là bờ đâu là sông, chỉ có vệt sáng yếu ớt của cái đèn pin gắn trước mũi ghe rọi ra được vài thước trước mặt. Thỉnh thoảng một con cá quẫy đuôi đâu đó gần bờ làm mặt nước lao xao một vòng rồi lặng lại ngay. Sương bắt đầu xuống, ướt lạnh trên hai cánh tay để trần của cô, và cô phải nheo mắt lại mỗi khi có một con thiêu thân bay ngang qua luồng đèn pin, chao đảo rồi mất hút vào bóng tối hai bên.
Cô nhớ lại từng cử chỉ của ông suốt cả buổi, từ lúc bưng mâm cúng đi vào tới lúc đứng dậy đuổi cô về, và nhận ra một điều rõ hơn cả ba câu ông vừa nói: ông không nhìn cuốn sổ, dù chỉ một lần. Một người từng nói không cần coi cũng biết là sổ của ai, mà suốt cả buổi lại không dám nhìn thẳng vào nó lấy một giây, thì cái không nhìn đó là vì cái gì.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 9 →