Miếu Bà Thủy Long dựng ngay chỗ ba dòng nước gặp nhau, mái tôn cũ đã ngả màu gỉ sét, hai cột gỗ trước cửa bong tróc từng mảng sơn đỏ, phía trên cửa còn treo một tấm liễn chữ Hán đã phai gần hết nét. Út Lành tắp ghe vào cái bến đất nhỏ cạnh đó, buộc dây vào một gốc cây so đũa mọc nghiêng ra mé nước, rồi bước lên bờ, dép nhựa lún nhẹ xuống lớp bùn còn ẩm hơi sương chiều. Trời đã chạng vạng, ánh sáng cuối cùng còn sót trên mặt sông ngã ba nhuộm một màu tím xám nhạt, ba hướng nước chảy về như ba vệt lụa xỉn màu đan vào nhau rồi tan mất giữa dòng.
Sân miếu lát gạch tàu cũ, vài viên đã sứt góc, chung quanh bày lỉnh kỉnh mấy chậu kiểng còi cọc, một đống vỏ dừa khô chất góc tường chờ đốt, và một cái lu nước mưa to đặt cạnh bậc thềm để ai ghé miếu cũng có nước rửa tay trước khi vào. Mùi nhang cũ trộn với mùi bùn non và mùi vỏ dừa ẩm phảng phất khắp sân, thứ mùi mà cô nhớ mang máng từ hồi nhỏ theo cha ghé ngang đây một lần, lúc đó cô còn ngồi thu lu trên be ghe chờ cha vào thắp nhang, không dám bước chân vô sân miếu vì nghe nói trẻ con vô đó dễ bị Bà quở.
Ông Hai Thẹo đang lúi húi trước sân miếu, bày ra một cái mâm gỗ thấp. Trên mâm có một đĩa xôi gấc đỏ, một chai rượu đế chưa khui, và nổi bật nhất là một cặp vịt luộc còn nguyên con, da vàng óng, đặt song song đầu quay ra phía cửa miếu. Ông cúi lom khom sửa lại thế nằm của cặp vịt cho ngay ngắn, tay kia cầm bó nhang chưa đốt phẩy phẩy như đuổi muỗi.
"Bây tới hồi nào vậy? Tao đâu có nghe tiếng máy ghe."
"Mới tắp vô. Tắt máy ngoài xa, chèo tay lại."
Ông Hai Thẹo ngẩng lên nhìn cô một thoáng, ánh mắt lướt qua cái túi vải đeo chéo trước khi quay lại với cặp vịt trên mâm. Ánh sáng chạng vạng hắt nghiêng vào mặt ông, kéo dài cái sẹo chạy từ mang tai xuống tận cằm thành một vệt tối sẫm, da quanh vết sẹo nhăn lại mỗi lần ông cúi xuống.
"Bữa nay lệ cúng hả ông Hai?"
"Ừ, tối nay có lệ. Cặp vịt này để riêng cho Bà, không phải cúng chung như mấy bữa thường."
"Sao để riêng?"
"Bà không ăn gà. Cúng gà Bà giận, để đó ba bữa không ai dám đụng, ruồi bu đầy rồi phải đem chôn. Hồi tao mới về giữ miếu tao cũng cúng gà, bị bà con trong xóm cản, nói ông giữ miếu mà không biết lệ."
"Còn xôi gấc?"
"Xôi phải đỏ. Bà thích màu đỏ, ai cúng xôi trắng Bà cũng lơ đi, coi như không thấy. Với lại rượu phải để nguyên chai, chưa khui, khui rồi là hết linh."
"Chừng nào khui?"
"Tàn ba tuần nhang mới khui. Khui sớm là chưa xong lễ, Bà chưa kịp nhận thì mình đã giành uống trước rồi."
Ông Hai Thẹo vừa nói vừa đốt ba cây nhang, cắm lần lượt vào cái bát cát sứt miệng đặt ngay trước mâm, tàn nhang cũ trong bát đã vun thành một gò nhỏ xám trắng. Khói nhang bốc lên thẳng đứng một đoạn rồi tạt ngang theo cơn gió nhẹ thổi từ phía ngã ba sông, len qua khe cửa miếu rồi tan biến vào bóng tối nhá nhem bên trong.
"Lệ ở đây khác chỗ tui."
"Mỗi miếu một lệ, không cái nào giống cái nào. Ai đem lệ chỗ khác qua đây cúng là Bà không nhận, coi như không cúng."
Ông đứng thẳng lưng lại, phủi tay vào vạt áo sơ mi trắng đã ngả màu cháo lòng, rồi mới nhìn thẳng vào cô, không còn cái vẻ lúi húi lúc nãy. Đôi mắt ông dưới hàng chân mày bạc trắng nhìn cô chăm chú hơn hẳn lúc trước, như đang tính xem cô đứng đó bao lâu rồi mà chưa mở miệng nói chuyện chính.
"Thôi, bây tới đây không phải để hỏi tao chuyện cúng kiếng. Nói đi, có chuyện gì."
Út Lành đưa tay mở túi vải, lấy cuốn sổ bọc trong bao ni lông ra, hai tay chìa về phía ông. Gió chiều thổi mạnh hơn một chút, làm tà áo bà ba của cô phất nhẹ, và tiếng nước ngã ba róc rách sau lưng nghe rõ hơn trong khoảng lặng giữa hai câu nói.
"Ông coi giùm cái này."
Ông Hai Thẹo nhìn cuốn sổ một giây, rồi nhìn lại mặt cô, không đưa tay ra đỡ. Bàn tay ông vẫn buông thõng bên hông, ngón cái miết nhẹ lên vạt áo như đang lau một vết bẩn tưởng tượng.
"Cất đi. Tao không cầm cái đó."
"Ông chưa coi mà."
"Tao không cần coi cũng biết là của ai. Bây tưởng tao mù chắc."
"Dạ."
Út Lành khựng lại, tay vẫn còn chìa cuốn sổ ra giữa hai người, không biết nên rút về hay để nguyên đó. Cô nhìn ông Hai Thẹo, cố tìm trên gương mặt già nua ấy một dấu hiệu gì đó cho biết ông đang nói thật hay chỉ đang né tránh, nhưng cái sẹo dài trên má ông trong bóng chạng vạng làm biểu cảm của ông khó đoán hơn bình thường.
Ông Hai Thẹo quay đi, bưng cái mâm cúng bước qua khỏi bậc cửa miếu, đặt xuống chỗ bệ thờ chính giữa, tay xếp lại cặp vịt cho thẳng hàng một lần nữa trước khi lùi ra, xong mới quay lại, đứng khuất một nửa trong bóng tối cửa miếu, chỉ còn cái bóng và ánh mắt là còn nhìn rõ được. Phía sau lưng cô, ba dòng nước vẫn chảy về hợp lại chỗ ngã ba, tiếng nước lúc này nghe rõ hơn hẳn khi trời đã sụp hẳn tối, mỗi hướng một nhịp sóng vỗ khác nhau vào chân cầu bến, không hòa vào làm một mà cứ chồng lên nhau nghe lộn xộn.
"Bây muốn hỏi gì thì hỏi cho lẹ. Tao chỉ nói ba câu thôi."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 8 →