Quán nước ven đường trên Don Khon có bốn cái bàn nhựa kê dưới tán me. Xế chiều, nắng đã dịu. Cô ngồi một góc với ly nước đá, nhìn ra phía thác qua khoảng trống giữa hai hàng cây. Từ đây chỉ thấy một vệt trắng nằm ngang, nghe một tiếng ù đều, như tiếng máy ghe nổ ở xa mà không bao giờ tắt. Khamla ngồi đối diện, ly trà đá của anh đã cạn tới đá.

"Ngồi xa vầy mà vẫn nghe hả anh?"

"Nghe. Ở đây ngủ cũng nghe."

Bàn bên có hai ông già, một bàn cờ bỏ dở, một rổ đậu phộng luộc. Hai ông đã thôi đánh cờ, giờ đang cãi.

Trước quán dựng một tấm bảng du lịch bạc màu, góc đã cong vì nắng mưa. Chữ in tiếng Anh, cô đọc được từng con chữ mà không hiểu chữ nào, trừ mấy con số. Dòng in đậm nhất có số 11 và số 14, và một chữ cô đánh vần trong đầu thành Ni-a-ga-ra.

"Ni-a-ga-ra là gì anh?"

Khamla liếc tấm bảng. "Thác. Bên Mỹ."

"Lớn không?"

"Khách nói lớn."

Ông già áo trắng đứng hẳn dậy, chỉ vào tấm bảng, nói một tràng. Ông già áo nâu vỗ bàn, nói lại một tràng dài hơn.

"Cãi gì vậy anh?"

Khamla nghe thêm một lúc. "Ông này," anh hất cằm về phía áo trắng. "Bảng. Mười một. Mười bốn. Cây số."

"Thác rộng mười một tới mười bốn cây số?"

"Ừ. Gấp hai thác bên Mỹ."

Ông áo nâu đã nhúng ngón tay vô ly trà, viết lên mặt bàn nhựa một dãy số. Viết xong ông gõ gõ lên đó, nhìn ông áo trắng như người vừa đặt quân cờ chiếu tướng.

Cô nghiêng người nhìn qua. Dãy số đã bắt đầu loang: 10783.

"Còn ông kia?"

"Cháu ổng làm trạm đo. Đo máy." Khamla nhìn mặt bàn bên kia. "Mười ngàn bảy trăm tám mươi ba mét."

"Vậy ai đúng?"

Khamla không dịch câu đó. Anh nhún vai.

Hai ông cãi tiếp. Ông áo trắng chỉ tấm bảng, giọng lên cao. Ông áo nâu chỉ dãy số đang khô dần trên mặt bàn. Ông áo trắng nói một câu gì đó làm ông áo nâu ngửa cổ cười.

"Ông kia nói gì mà ông này cười?"

"Ổng nói bảng in ra là cho khách coi. Cháu ổng đo là cho cháu ổng coi."

"Rồi ông này nói sao?"

Khamla nghe. "Máy cũng người ta làm ra."

Ông áo trắng dí ngón tay vô ngực ông áo nâu, hỏi một câu ngắn.

"Hỏi gì vậy anh?"

"Hỏi ổng đi đo lần nào chưa."

"Rồi sao?"

"Chưa. Ổng tin cháu ổng." Khamla nghe tiếp. "Ông kia nói vậy ổng cũng tin bảng. Hai người cùng tin."

"Vậy khác gì nhau?"

Khamla quay qua nói câu đó bằng tiếng Lào, to vừa đủ cho bàn bên nghe. Ông áo nâu ngó qua, nhìn cô một cái, đập bàn, nói một tràng.

"Ổng nói khác. Cháu ổng là người. Bảng là bảng. Người thì hỏi lại được."

Ông áo trắng cũng nói, chỉ tấm bảng.

"Còn ông này nói bảng đứng đó hai chục năm, không đổi. Người thì đổi."

Ông áo trắng búng một hột đậu phộng qua bàn bên kia. Ông áo nâu chụp được, bóc, ăn, rồi nói tiếp.

"Giờ ổng nói gì?"

"Đậu ngon. Cãi tiếp."

Một người khách ngồi bàn thứ ba, cũng tóc bạc, quay sang nói chen vô một câu. Cả ba cùng cười.

"Ông đó nói gì?"

"Hai ông này cãi chuyện này mười năm rồi." Khamla ngừng một chút, nghe tiếp. "Lần nào cũng cãi lại từ đầu."

"Mười năm mà không ai chịu ai?"

"Không chịu."

Cô nhìn tấm bảng, rồi nhìn mặt bàn bên kia. Dãy số viết bằng nước trà đã khô mất hai chữ số đầu, chỉ còn 783 mờ mờ. Ông áo nâu không viết lại. Ông áo trắng cũng không chỉ tấm bảng nữa. Hai ông ngồi xuống, bóc đậu phộng, ăn.

Cô ngồi yên. Cái thác ngoài kia cô đã đứng nhìn hồi sáng, quay đầu tới mỏi cổ mà không thấy bờ bên kia. Đo bằng mắt được, đo bằng máy được, có bảng in hẳn hoi, mà hai ông già ngồi cạnh nhau mười năm vẫn ra hai con số. Cô nghĩ tới mấy cái không có máy nào đo, không có tấm bảng nào in, rồi thôi không nghĩ nữa. Cô uống một ngụm nước đá.

Ông áo trắng nói một câu mới, giọng khác hẳn, như đổi đề tài.

"Giờ cãi gì?"

Khamla nghe. Lần đầu tiên trong buổi chiều, khóe miệng anh nhích lên một chút.

"Giá xăng."

"Ai đúng?"

"Không ai."

"Sao biết không ai?"

"Xăng lên. Hai ông cùng chịu."

Ông áo nâu đòi thêm rổ đậu phộng. Chủ quán đi lấy.

"Anh coi bên nào?" cô hỏi Khamla.

Anh nghĩ một chút, rồi giơ ngón cái bẹt lên, chỉ ra phía tiếng ù ngoài kia. "Coi dây. Không coi thác."

"Giờ mình đi đâu?"

Khamla hất cằm về phía tiếng ù. "Ghềnh. Có người. Cô đi gặp."

"Người nào?"

Anh không trả lời, đứng dậy trả tiền cả hai ly. Lúc hai người đứng dậy, hai ông già đã sang chuyện thứ ba, người khách bàn bên lại chen vô, cả ba lại cười.

Ra tới đường, cô quay lại nhìn tấm bảng lần nữa. Số 11 và số 14 in đậm, bạc màu, còn đọc được rõ từ xa.

Bề rộng thác Khone Phapheng theo số đo kỹ thuật là 10.783 m, độ tụt tối đa 21 m, chuỗi ghềnh dài khoảng 9,7 km. Nguồn: Wikipedia, mục Khone Phapheng Falls. Guinness World Records, hạng mục widest rapids, ghi từ 11 tới 14 km.

Hết Chương 76
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 77 →
← TrướcTiếp →