Nền đường ray cũ chạy thẳng băng qua đảo Don Khon, cao hơn ruộng hai bên chừng nửa người. Ray đã gỡ sạch. Còn lại hai vệt đá dăm lún xuống, cỏ mọc giữa hai vệt, cỏ mọc lấn cả lên vệt, và cứ một quãng lại có một khúc tà vẹt gỗ mục nằm chìm trong đất, đen như than ướt.
Khamla đi trước, một cuộn dây thừng mới vắt chéo qua vai, to cỡ cái bánh xe đạp. Sáng nay có người trên đảo đặt anh cuộn dây ấy. Anh nhận đem tới, và cô đi theo vì chưa biết đi đâu khác.
Xế chiều, nắng đã nghiêng. Mùi xoài non từ mấy gốc cây hai bên, mùi phân trâu khô. Cô đếm bước. Đếm tới năm trăm thì bỏ, vì Khamla dừng lại.
Anh ngồi xổm bên một cái cọc bê tông thấp cắm sát mép nền đường. Trên đầu cọc còn một cái khoen sắt gỉ đỏ, to bằng cổ tay. Anh lấy ngón cái bẹt cạo lớp gỉ, cạo tới khi lộ lớp sắt đen bên dưới, luồn đầu dây qua khoen, ngả người kéo thử.
"Còn chắc," anh nói.
Tiếng Việt của anh chỉ có chừng ấy chữ, đặt ra từng chữ một, chậm như người dò đá qua suối. Phần lớn là số, là giá, là mấy tiếng dưới bến người ta hay quát nhau.
"Cái khoen để làm gì?"
Anh giơ hai tay làm động tác kéo, hất cằm dọc theo nền đường về phía bắc. "Kéo. Toa." Rồi anh vỗ vào bả vai mình, chỗ cuộn dây đang đè xuống. "Ông nội tôi. Vác gỗ. Đường này."
"Gỗ gì?"
Anh chỉ xuống khúc tà vẹt mục dưới chân cô.
"Đường này chạy hồi nào?"
Anh đếm trên đầu ngón tay, môi mấp máy tiếng Lào, rồi nói bằng tiếng Việt, rành rọt hơn hẳn mọi chữ khác, vì con số là thứ anh vẫn dùng để đòi tiền công: "Một tám chín bảy. Tới một chín bốn mươi."
Hết nền đường thì tới cây cầu. Cầu cạn bê tông bắc qua một nhánh sông nhỏ nối sang đảo bên kia, dài chừng một trăm bảy mươi mét, các trụ đỡ còn nguyên, mặt cầu nứt chân chim, cỏ mọc ở khe nứt. Bọn con nít ở trần chạy trên mặt cầu, leo qua lan can, nhảy ùm xuống nước, bơi vô bờ, leo lên nhảy lại. Không đứa nào nhìn cái cầu. Với tụi nó đó là cái chỗ để nhảy.
Đầu cầu có một bà bán nước. Một thùng đá xốp, hai cái ghế nhựa, một cái dù bạt sọc xanh cột vào lan can, rũ một bên vì gió hôm trước giật sút dây. Bà thấy Khamla thì đứng dậy, nói một tràng tiếng Lào, giọng như mắng. Anh thả cuộn dây xuống trước chân bà. Cuộn dây là của bà đặt.
Bà quay sang nhìn cô từ đầu tới chân, rồi nói bằng tiếng Việt, giọng miệt dưới hẳn hoi:
"Cô ở dưới lên hả? Giọng cô giống giọng ổng."
Ổng là chồng bà, người Châu Đốc, chạy ghe hàng lên Pakse hơn hai chục năm, cưới bà, rồi mất ở đây. Tiếng Việt của bà là tiếng của ông, chỗ nào ông nói trại thì bà nói trại y chỗ đó.
"Cần Thơ," cô nói.
"Cần Thơ với Châu Đốc gần không?"
"Một buổi xe."
"Một buổi xe mà ổng đi hai chục năm không về lần nào." Bà cười, quay ra lan can quát bằng tiếng Lào. Hai đứa nhỏ đang đứng chênh vênh trên thành cầu nhảy ùm xuống nước. "Uống gì? Nước suối mười ngàn kíp. Khách Tây thì hai chục."
"Còn con?"
"Cô thì mười. Cô là người miệt dưới."
Khamla đã leo lên lan can, gỡ đầu dây cũ của cái dù ra. Sợi cũ mủn, đứt làm ba khúc trong tay anh. Anh cắt một đoạn dây mới bằng con dao nhỏ giắt lưng, đo bằng sải tay.
"Hồi xưa xe lửa chạy trên cái cầu này," bà nói, đưa cô chai nước đã lau nước đá. "Tàu thủy nằm trên toa."
"Tàu thủy nằm trên toa?"
"Tháo ra. Từng miếng. Chở bảy cây số, qua khỏi thác. Tới đầu bên kia ráp lại, thả xuống sông, chạy tiếp."
"Ráp lại có sót miếng nào không?"
Bà quay qua hỏi Khamla bằng tiếng Lào. Anh đang thắt, không ngẩng lên, trả lời một câu ngắn. Bà dịch:
"Nó nói ông nội nó kể, miếng nào cũng có số. Sơn số lên. Tháo theo số, ráp theo số. Sót một con ốc là tàu không nổi."
"Còn cái đường thì ai tháo?"
"Ray hả? Người ta gỡ đem đi hồi nào tui không biết. Tui về làm dâu thì nó đã trơ vầy rồi."
"Tụi nhỏ nhảy vầy hoài không ai cấm hả cô?"
"Cấm ai được. Ông nội tụi nó cũng nhảy ở đây. Hồi đó còn xe lửa, xe lửa chạy qua là tụi nó nhảy cho né." Bà chỉ xuống nước. "Chỗ đó sâu. Mùa khô cạn tới đầu gối, tụi nó vẫn nhảy, gãy chân hai đứa rồi."
Khamla thắt xong. Anh không giật thử. Anh để bà tự giật.
"Giật mạnh vô," cô nói. "Ảnh muốn cô giật."
"Tui biết. Thằng này làm cái gì cũng bắt chủ giật thử." Bà nắm mép dù đu cả người lên. Cái dù không nhúc nhích. Bà gật, móc túi đưa anh mấy tờ tiền nhàu. Anh đếm, trả lại một tờ.
"Nó chê dư," bà nói. "Lần nào cũng vậy. Cô cầm giùm nó đi."
Bà nhét tờ tiền vô tay cô. Cô nhìn Khamla. Anh đã quay lưng đi xuống chân cầu.
"Con cầm thì ảnh lấy lại hả cô?"
"Không. Nó không lấy. Mà cô đưa lại tui là tui giận." Bà cười, lấy vạt áo lau mồ hôi cổ.
Một tốp khách Tây đạp xe tới. Bà đứng dậy với hai chai nước, nói tiếng Anh bằng đúng năm chữ bà có.
Cô ngồi xuống mép nền đường, chỗ đầu cầu, lấy sổ ra.
17 tháng 10. Don Khon, nước rút. Không vớt gì. Nền đường sắt bảy cây số, ray gỡ hết, cầu còn. Ở nhà giờ này nước kém. Không ai nhận.
Cô gấp sổ lại, không đọc lại dòng thứ năm.
Khamla đứng chờ ở chân cầu, cuộn phần dây thừa thành vòng nhỏ, quấn chặt, nhét vào túi quần. Cô chìa tờ tiền ra.
"Tiền của anh."
Anh nhìn tờ tiền, lắc đầu. "Mua nước."
"Nước mua rồi."
"Mua nữa."
Nắng đã ngả cam, bóng cây cầu đổ dài xuống mặt nước. Một đứa nhỏ ngoi lên đúng chỗ bóng ấy, la lớn một câu gì đó, cả đám trên cầu cười.
Cô nhìn cây cầu thêm một lúc. Một trăm bảy mươi mét bê tông. Người ta tháo được cả một con tàu, tháo được bảy cây số ray. Cái cầu thì không ai tháo nổi, nên người ta để nó lại đó cho con nít nhảy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 72 →