Sáng hôm sau trời mưa nhỏ, thứ mưa lây rây không đủ ướt áo nhưng đủ làm mặt rạch gợn suốt buổi. Tiếng mưa rơi trên mái tôn nghe lộp độp không đều, chỗ mau chỗ thưa, tùy chỗ mái bị móp. Út Lành ngồi ở bàn, cái vật ni lông vẫn nguyên chỗ tối qua đặt, chưa ai đụng tới.
Ngoài hàng ba có tiếng dép lẹp xẹp, rồi tiếng gọi vọng vào qua khe cửa còn khép hờ.
"Út ơi, có nhà không?"
"Có. Vô đi cô, cửa không cài."
Bà Tư bước vào, đầu đội cái nón lá còn đọng mấy giọt mưa, tay cầm theo cây dù mượn hôm trước.
"Cô trả cây dù nè. Bữa hổm mưa, con cho cô mượn trên đò đó."
"Quên luôn rồi."
"Nghe nói hôm qua con vớt được một cái nữa hả?"
"Một ông trạc bốn mươi. Chưa ai nhận."
"Trời, tội quá. Mà con có sao không, coi bộ tỉnh queo vậy, cô thấy mà cô còn ghê hơn con."
"Quen rồi cô."
"Quen gì thì quen, cô nghe nói mấy nhà bên xóm trên còn không dám ra gần chỗ đó cả tuần sau mỗi lần có chuyện."
"Tránh đi đâu. Nghề mà."
Bà Tư đảo mắt nhìn quanh nhà một vòng, dừng lại ở cái bàn có ly nước uống dở từ tối qua và cái gói ni lông đặt kế bên.
"Cái gì gói kỹ vậy Út, để giữa bàn mà cô tưởng đồ ăn."
"Đồ lấy được hôm qua. Chưa coi."
"Vậy hả. Thôi cô hỏi vậy thôi, chuyện của con thì con biết, cô không tò mò."
"Dạ."
"Ừ mà con nhớ ăn uống đàng hoàng nghen, thấy con ốm hơn hồi tháng trước đó."
"Ăn đủ mà. Nắng nhiều nên đen."
"Con nấu cơm chưa, hay để cô đem ít rau qua, sáng giờ cô hái dư."
"Thôi cô. Còn đồ ăn. Để dành bán."
"Ừ thì thôi, cô hỏi vậy thôi, thấy con ở một mình cô cũng ngại." Bà đứng dậy, kéo vạt áo mưa lại cho gọn. "Thôi cô về, trời mưa vầy chợ chắc ế, để trễ giờ người ta hết chỗ đứng."
"Đường trơn đó cô."
"Ừ, cô đi đây, có gì thiếu thì kêu cô một tiếng."
Bà Tư đi rồi, nhà lại yên như cũ, chỉ còn tiếng mưa trên mái. Út Lành đặt cây dù dựa vào vách, quay lại với cái vật ni lông trên bàn, cầm lên, xoay ngang xoay dọc một lượt, rồi mới bắt đầu gỡ mấy vòng dây thun. Dây thun đã cứng lại vì ngâm nước lâu ngày, đứt phựt một cái khi cô kéo hơi mạnh tay.
Bên trong là một cuốn sổ bìa cứng, không có chữ ngoài bìa. Giấy đã ngấm nước rồi khô lại không biết bao nhiêu lần, mép từng trang nở phồng lên, sờ vào có cảm giác gợn như da thuộc chứ không còn mịn như giấy thường. Cô lật vài trang đầu, chưa đọc kỹ, chỉ để quen tay với cái độ dày bất thường của nó, ngón tay lướt qua từng mép trang gợn như đang đếm.
Cô lật từng trang, chậm. Mỗi trang chỉ vài dòng, chữ nhỏ nhưng đều, không giống chữ cô, đứng thẳng và hơi nghiêng về bên phải. Có một chỗ khiến cô dừng lại lâu hơn những chỗ khác: mỗi mục đều có thêm một cột nhỏ ghi giờ nước lúc vớt, thứ mà sổ của cô chưa bao giờ ghi, vì cô thấy nó không cần thiết. Cô nhận ra nét chữ trước khi kịp nghĩ ra lý do vì sao mình nhận ra được, kiểu nhận biết đến từ tay chứ không phải từ đầu, giống như biết mặt nước bên dưới sắp trở mà không cần nhìn đồng hồ.
Cô lật tiếp, đọc rải rác vài mục. Toàn những chỗ vớt cô chưa từng nghe tên, không phải Cái Răng, không phải Trần Đề, cũng không phải bất cứ khúc sông nào bà con quanh đây hay nhắc tới. Có mục ghi tên một cái chợ nổi xa lạ, có mục chỉ ghi vắn tắt "cửa lớn, nước hai màu", có mục lẫn vài chữ không phải tiếng Việt, nét viết ngập ngừng như người ghi phải hỏi lại cách đánh vần trước khi viết xuống. Không có chỗ nào trong đó là chỗ cô biết cha từng ghé qua.
Tay cô lật nhanh hơn một chút, không phải vì vội, mà vì mỗi trang lật qua lại đưa cô xa thêm khỏi những cái tên quen thuộc. Mưa ngoài mái vẫn rơi đều, có lúc gió tạt một luồng nước nhỏ qua khe cửa sổ, ướt một góc bàn, cô đưa tay gạt đi mà mắt không rời khỏi trang sổ.
Cuốn sổ dày hơn cô tưởng lúc cầm lên ban đầu, phải hơn trăm trang, phần lớn đã kín chữ. Cô lật, lật nữa, tốc độ đều dần lên khi những cái tên lạ cứ nối tiếp nhau không dứt, không có chỗ nào cô nhận ra để dừng lại nghỉ mắt. Có đoạn giấy dính chặt vào nhau vì nước cũ, cô phải tách ra bằng đầu móng tay, cẩn thận để không rách. Ngoài trời mưa đã nặng hạt hơn lúc bà Tư ra về, tiếng mưa trên mái tôn dày lên thành một lớp âm đều, và ánh sáng trong nhà xám hẳn đi so với lúc sáng sớm, buộc cô phải nghiêng cuốn sổ lại gần cửa sổ hơn mới đọc rõ được nét chữ nhỏ.
Rồi những trang trống bắt đầu xuất hiện, thưa dần số mục ghi mỗi trang, tới khi chỉ còn một trang có chữ, nằm ngay trước một khoảng giấy trắng chiếm hết phần còn lại của cuốn sổ.
Út Lành dừng tay lại ở đó, ngón trỏ đặt hờ lên mép trang cuối cùng có chữ, chưa lật qua. Ngoài mái tôn, một cơn gió mạnh hơn thổi qua, hất một loạt hạt mưa rào lên khoảng sân trước, và tiếng nước chảy trong máng xối rộ lên một lúc rồi dịu xuống trở lại nhịp cũ. Cây dù bà Tư đem trả vẫn dựng nguyên chỗ vách, chưa khô hẳn, nhỏ từng giọt xuống nền đất.
Cô hít vào một hơi, không sâu lắm, rồi lật nốt trang cuối cùng đó.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →