Xe đỗ hẳn lại ngay khu bến, Út Lành xuống xe giữa cái nắng trưa gắt và một luồng gió mặn tạt thẳng vào mặt, khác hẳn cái nóng ẩm quen thuộc trên sông nhà. Anh lơ xe tháo hai sợi dây cao su, rút cây sào khỏi hông xe, dựng vô tay cô rồi quay đi không nói gì. Bến cá đang vào giờ tan chợ sớm, mấy chiếc ghe cào vừa cập bến, người ta khiêng từng cây đá lạnh đổ xuống sàn ghe kêu lạo xạo, nước đá tan chảy thành dòng nhỏ len qua khe ván chảy tọt xuống biển.
Thùng xốp trắng xếp chồng cao ngất dọc theo cầu cảng, bên trong là cá tôm còn tươi ướp đá, người mua kẻ bán chen nhau trả giá, tiếng cãi cọ xen lẫn tiếng cười lớn. Có người rao giá tôm sú hai trăm rưỡi một ký, người khác trả giá gắt xuống còn hai trăm, cãi qua cãi lại một hồi rồi cũng bán. Mùi tanh của cá trộn với mùi dầu máy và mùi muối biển xộc thẳng vào mũi, đậm hơn hẳn cái mùi bùn non cô quen từ nhỏ. Cô đứng sững một lúc giữa cái ồn ào đó, nắm chặt quai giỏ, chưa biết bắt đầu hỏi đường từ đâu. Xa xa, phía cuối cầu cảng, mấy chiếc ghe cào lớn hơn đang neo đợi tới lượt bốc cá, cột buồm trơ trọi in lên nền trời trắng xóa vì nắng gắt giữa trưa.
Cô chọn một người đàn ông đang ngồi vá lưới cạnh đống thùng xốp, tay thoăn thoắt luồn con thoi qua từng mắt lưới rách, tiến lại gần.
"Chú, ra cửa biển thì đi đường nào?"
Người đàn ông ngừng tay, ngước nhìn cô từ đầu tới chân, ánh mắt dừng lại một chút ở cái giỏ nhựa cô xách theo.
"Cô ở đâu tới vậy? Ra cửa làm gì, đi câu hả?"
"Không câu. Đi tìm người."
"Tìm ai? Người ta ở ngoải hả?"
"Chưa chắc còn ở ngoải. Đi hỏi thử."
"Ngoài cửa giờ này sóng lớn lắm à nghen, cô có biết bơi không đó?"
"Biết. Dân sông mà."
Người đàn ông gật gù, không hỏi thêm, chỉ tay về phía một con đường nhỏ chạy dọc theo mé nước.
"Muốn ra cửa thì đi thuê ghe ở bến dưới kia, sáng mai mới có ghe chạy sớm, giờ này trưa trờ trưa trật không ai chạy đâu. Cô kiếm chỗ trọ nghỉ tạm một đêm đi."
"Thuê nhiêu chú?"
"Tùy xa gần, đi loanh quanh mấy cửa gần thì hai trăm rưỡi, ba trăm một chuyến, cô cứ ra hỏi thẳng mấy ông chủ ghe dưới bến, họ ra giá đàng hoàng."
"Dạ."
Cô men theo con đường ông chỉ, đi ngang một dãy quán ăn nhỏ bán bún cá và cháo cá lóc, giá ghi phấn trên bảng đen ba chục ngàn một tô, mùi mắm nêm và mùi rau sống thoảng ra từ mấy cái quán lụp xụp mái lá. Một chiếc xe ba gác chở đầy vỏ ốc len qua giữa đường, bánh xe cán lạo xạo trên lớp vỏ rơi vãi. Cô hỏi thăm thêm vài người nữa mới tìm được một nhà trọ nhỏ gần bến, mái tôn thấp lè tè, một tấm biển sơn tay đã bạc màu treo trước cửa, đề giá phòng ngay bên dưới tên nhà trọ. Chủ nhà trọ là một người phụ nữ trung niên, đang ngồi quạt tay trước một cái quạt tường cũ kêu è è chạy không nổi vì điện yếu.
"Cô thuê phòng mấy đêm?"
"Một đêm trước."
"Được, một trăm rưỡi một đêm, có quạt, không có máy lạnh à nghen, ở đây cúp điện hoài."
"Được."
"Cô ăn cơm chưa? Đầu hẻm có quán cơm bình dân, ba lăm ngàn một dĩa, ăn được lắm."
"Chút nữa ra."
Bà chủ dẫn cô vào một căn phòng nhỏ, trần thấp tới mức cô phải hơi cúi đầu khi bước qua khung cửa, một cái quạt tường khác gắn trên vách, cánh quạt phủ bụi mỏng. Trên vách đối diện dán một tấm bản đồ cũ vẽ tay các cửa sông vùng này, giấy đã ố vàng, mấy chỗ rách được dán lại bằng băng keo trong.
"Cô đi tìm người ở khu này hay khu nào vậy?"
"Nghe nói ngoài này có mấy cái cửa. Muốn ra coi."
Bà chủ nhà trọ liếc qua tấm bản đồ trên vách, giọng thản nhiên như đang nói chuyện thời tiết.
"À, cửa hả. Sông này có hai cửa câm rồi đó cô, cửa Ba Thắc với cửa Ba Lai, giờ câm hết, không còn chảy ra biển nữa. Dân ở đây ai cũng biết, có gì lạ đâu."
"Câm là sao bác?"
"Là bồi lấp riết rồi tắc luôn, hoặc bị người ta be bờ ngăn lại, mỗi cửa câm một kiểu. Cô hỏi kỹ mấy chuyện đó làm gì?"
Út Lành khựng lại một chút trước câu hỏi ngược, không trả lời ngay, chỉ cười nhẹ cho qua chuyện.
"Hỏi vậy thôi."
Bà chủ nhà trọ không hỏi thêm, quay ra dặn dò giờ giấc đóng cửa nhà trọ, rồi để cô lại một mình trong căn phòng nhỏ. Út Lành đặt giỏ đồ xuống giường, lấy cuốn sổ ra khỏi lớp ni lông, đặt lên gối, rồi mới quay sang nhìn lại tấm bản đồ cũ trên vách một lần nữa. Nét vẽ tay đã mờ gần hết ở mấy chỗ gấp giấy, chỉ còn những đường sông chính còn đọc rõ, mắt cô dừng lại thật lâu ở hai cái tên vừa mới nghe lần đầu trong đời: Ba Thắc, Ba Lai, hai chấm nhỏ nằm cách xa nhau trên tấm giấy ố vàng.
Bên ngoài, tiếng máy ghe cào nổ giòn rồi tắt dần khi trời sập tối, xen lẫn tiếng sóng biển đập vào bờ kè đều đều, nghe khác hẳn tiếng nước sông vỗ mạn ghe cô quen nghe suốt đời. Cô gỡ cây sào khỏi bao bố, dựng vô góc phòng. Trần thấp quá, phải dựng xiên, và đầu sào tì đúng vào mép tấm bản đồ, ngay giữa hai chấm nhỏ Ba Thắc, Ba Lai, đè lên một nếp gấp đã rách.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 12 →