Vỏ hạt hướng dương đã thành một đống nhỏ cạnh ly cà phê đen, và ông già vẫn chưa nói câu nào.
Quán vỉa hè ở đầu xóm Trà Nam chỉ có bốn cái bàn nhựa thấp. Bách đứng sau lưng ông, tay cầm điện thoại úp xuống, đúng như Thư dặn trước khi tới. Huy đứng cạnh xe, một ngón tay chạm vết sẹo dưới cằm.
Thư ngồi xuống đối diện, không mở sổ.
"Cô là người đọc cái giấy về cái vỏ hả?" Ba Thạnh nhổ vỏ hạt ra lòng bàn tay.
"Tôi là người viết cái giấy đó, chú Ba."
"Trong giấy có ghi tên tui hông?"
"Không. Ghi 'ngư dân không nêu tên'."
"Vậy được." Ông thả vỏ hạt lên đống cũ. "Gần Tết, ghe còn treo cờ cúng. Tui ra thu lưới cho thằng cháu, ghe nó nhỏ, đặt sát bãi ngoài Cồn Mặn. Miếng vỏ mắc trong lưới, dài hơn bốn tấc, nặng như miếng ngói. Tui gỡ ra mà hai tay lạnh ngắt."
"Sao chú xin giấu tên?"
"Cái gì lạ dính lưới mà khai tên ra thì ghe mang tiếng. Ghe mang tiếng thì bạn thuyền không ai chịu đi." Ông nhìn thẳng vào cô. "Giờ cô nói thiệt cho tui nghe. Cái vỏ đó của con gì?"
"Tôi chưa biết, chú."
"Học tới cỡ cô mà chưa biết?"
"Tôi biết nó không phải cua, không phải ghẹ, không phải tôm hùm. Nó của cái gì thì tôi chưa biết."
Ba Thạnh bốc thêm một nắm hạt, cắn một hột, nhai rất lâu.
"Vậy được. Người nói chắc thì tui hổng tin."
Bách thở ra một hơi phía sau lưng ông, như vừa xong một buổi quay khó.
Con đường đê sáng nay khô trắng. Bán tải chạy chậm qua dãy kho muối của hợp tác xã, sau kho là bốn cái bể xi măng thấp, nước trong bể vàng nhạt như nước trà để qua đêm. Ba Thạnh ngồi ghế sau, chỉ ra cửa kính.
"Bể ót đó. Con nít trong xóm cấm bén mảng."
"Sao vậy chú?"
"Uống nhầm một hớp là đi nhà thương. Mặn tới đắng."
Thư nhìn theo bốn cái bể cho tới khi xe rẽ ở cây phi lao chết.
Bãi ngoài Cồn Mặn là một dải cát xám chạy dài, sau lưng là hàng phi lao chết khô, thân trắng như xương, lưới rách mắc trên mấy nhánh thấp. Rác lưới, phao xốp, dép đứt nằm theo một vệt dài nơi nước lớn đêm qua đẩy lên. Hôm qua cô đã đi bộ một vòng ở đây, nhưng không biết chỗ nào.
Ba Thạnh dừng ở một khúc giữa hai cây phi lao, lấy mũi dép vạch một đường trên cát.
"Chỗ này. Lưới thằng cháu cắm từ đây ra."
Thư quỳ xuống, kéo thước dây. Huy chụp ảnh từng góc, đọc to số đo cho cô ghi.
Bách ngồi xổm cách đó mấy bước. "Chị, em quay cái thước được hông? Không quay chú Ba."
"Quay tay tôi thôi. Đừng nói đây là bãi nào."
"Không nói thì người ta hỏi."
"Thì để người ta hỏi."
Bách quay đúng hai đoạn ngắn rồi tự cất máy vào túi, không cần ai nhắc. Cô xúc cát vào ba ống mẫu ở ba khoảng cách tới mép nước, dán nhãn, ghi giờ lên nắp.
"Ba tháng nay xác cá trôi vô nhiều hơn," Ba Thạnh nói. "Mấy con lạ lắm. Mắt to bằng đồng xu, bụng phình. Tui hổng ăn."
"Chú thấy nhiều nhất là sáng nào?"
"Sáng sau mấy đêm tối trời. Đêm sáng trăng thì ít."
Thư ghi câu đó lại nguyên văn.
Huy đứng gần hàng phi lao, gọi: "Chú Ba, đứng qua đây cho có bóng mát."
"Tui đứng đây được rồi."
Thư để ý. Từ lúc xuống xe, ông chưa lần nào đứng quay lưng ra biển. Khi cô đi vòng sang trái, ông bước theo nửa vòng để vẫn thấy nước.
Hai giờ chiều, Trạm Y tế xã nóng hầm hập. Ngọc Hà ngồi ở bàn tiếp nhận, mở sổ.
"Chị Thư, ca thứ bảy. Nữ, ba mươi mốt, phân loại cá ở chợ, khởi phát hai giờ hai mươi sáng nay, cổ tay trái, dưới găng. Rửa tay lúc ba giờ, bọng nước nhỏ."
"Rửa sau bao lâu?"
"Khoảng bốn mươi phút. Ca này nhẹ hơn mấy ca đầu nhiều."
"Ghi lại cái bốn mươi phút đó cho tôi."
Hà dẫn cô vào phòng lưu. Bốn giường thì ba giường có người, quạt trần quay chậm, mùi thuốc sát trùng lẫn mùi cá còn bám trên quần áo người nằm. Hạnh nằm ở giường trong cùng, ngủ say sau liều thuốc trưa, tay phải đặt trên ga trắng, băng gạc quấn tới khuỷu. Hà nhấc mép băng lên cho cô xem.
"Bọng nước lan lên tới đây. Có nhiễm trùng thứ phát nhẹ, sáng nay em đổi kháng sinh."
"Sao chị này nặng hơn hẳn?"
"Em hỏi rồi. Chỗ chị ấy ngồi là ngay cạnh vòi xối nước nóng rửa khay cá. Hơi bốc lên thẳng mặt." Hà hạ giọng. "Chị ấy nói quanh miệng rần rần như kiến bò, lưỡi có vị như ngậm đồng xu. Mấy ca khác không ai nói vậy."
"Mấy giờ thì rần?"
"Sau khi xối khay chừng mười lăm phút."
Thư ghi vào sổ "hít hơi?", gạch dưới hai lần.
Ba giờ, cô đứng ở hành lang Trạm gọi về Trung tâm. Trưởng phòng độc chất bắt máy sau hồi chuông thứ năm.
"Mẫu găng tôi gửi theo xe sáng nay rồi, anh. Tôi xin chạy độc chất, có thêm hai mẫu cát."
"Nhận rồi. Cô cần bao lâu?"
"Càng sớm càng tốt."
"Câu đó ai cũng nói. Tôi nói thật, vài ngày tới một tuần. Mẫu lạ thì còn lâu hơn."
"Có gì thì anh gọi tôi trước khi gửi văn bản."
"Được."
Cô cúp máy, đứng nhìn sân Trạm. Một chiếc xe máy chở hai thùng xốp chạy qua, nước đá nhỏ giọt thành một vệt dài trên đường.
Bốn giờ, cô ra cổng. Ba Thạnh ngồi xổm dưới gốc bàng, như đã ngồi đó lâu rồi. Thấy cô, ông đứng dậy, móc trong túi áo ra một cái hộp thuốc lá bằng thiếc, nắp đã tróc sơn.
"Cái này tui chưa đưa ai."
Ông mở nắp. Trong hộp lót một miếng giấy báo, trên đó là một chiếc vảy cá tròn, to bằng đồng xu năm nghìn, mặt vảy ánh lên màu đồng xỉn.
"Chú lượm ở đâu?"
"Cũng chỗ đó." Ông đặt cái hộp vào lòng bàn tay cô, gập mấy ngón tay cô lại. "Nó trôi vô cùng một sáng với cái vỏ."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →